Menu

Frank Rijkaard (2003-2008)

Frank RijkaardTừ trước khi đến với sân Camp Nou, Rijkaard đã nổi tiếng là một con người trầm tính và luôn có chừng mực. Thế nhưng thứ bóng đá mà ông truyền cho các cầu thủ Barça lại vô cùng cuồng nhiệt, mạnh mẽ và mang đầy màu sắc.

Rijkaard tên đầy đủ là Franklin Edmundo Rijkaard, ông sinh ngày 30/9/1962 tại Amsterdam, Hà Lan, trong một gia đình có mẹ là người Hà Lan gốc, còn cha là người Suriname. Lớn lên tại một thành phố nổi tiếng với việc sản sinh ra rất nhiều huyền thoại bóng đá thế giới, Rijkaard đã sớm thể hiện tài năng của mình trên sân cỏ. Năm 17 tuổi, Rijkaard tốt nghiệp học viện đào tạo trẻ của Ajax, chính thức gia nhập đội bóng, và ngay lập tức ghi bàn trong trận đấu ra mắt. Sau đó, trong suốt 8 mùa giải Rijkaard chơi bóng tại SVĐ Amsterdam Arena, Ajax vô địch 3 mùa giải, giành Cúp quốc gia 3 lần và đoạt 1 chiếc European Cup II (Cup Winners' Cup). Tháng 9 năm 1987, Rijkaard đã gây xôn xao dư luận bằng việc bỏ khỏi buổi tập và thề rằng sẽ không bao giờ chơi bóng trong đội hình của Johan Cruyff nữa. Sau đó chàng trai trẻ người Hà Lan chuyển đến CLB Sporting CP tại giải VĐQG Bồ Đào Nha, nhưng bản hợp đồng được ký quá muộn, khiến cho Rijkaard không được phép có tên trong danh sách thi đấu tại bất kỳ mặt trận nào. Ngay lập tức Real Zaragoza đề nghị mượn Rijkaard. Và sau 1 mùa giải thi đấu cho đội bóng Tây Ban Nha, Rijkaard đặt bút ký vào bản hợp đồng với AC Milan.

5 năm tại sân San Siro, Rijkaard đã ghi tên mình vào lịch sử bóng đá thế giới như một cầu thủ huyền thoại. Huấn luyện viên Arrigo Sacchi đã biến trung vệ Frank Rijkaard thành một tiền vệ trụ xuất sắc nhất thế giới vào thời điểm đó. Với lối chơi mạnh mẽ, lì lợm, Rijkaard đã cùng những người đồng hương Marco van Basten và Ruud Gullit lập ra bộ ba Hà Lan huyền thoại, giúp Milan "tàn phá" đấu trường châu Âu, vô địch C1 hai năm liền (1989, 1990), vô địch Serie A 2 lần (1988, 1992). Trong khoảng thời gian Rijkaard ở Ý, giới truyền thông cũng nói rằng ông đã gửi lời xin lỗi tới Johan Cruyff.

Sau 5 mùa giải ở Milan, Rijkaard trở về Ajax vào năm 1993. Dưới sự dẫn dắt của Louis van Gaal, ông cùng Danny Blind tạo nên một bộ đôi trung vệ thép, góp công rất lớn giúp Ajax lên ngôi tại Hà Lan 3 năm liền, và đặc biệt bất bại trong cả mùa giải 1994-1995. Hơn thế nữa, đội bóng xứ sở hoa Tuy-líp còn vươn bóng ra cả châu Âu, giành chức vô địch European Cup 1995, và thật ý nghĩa khi trận chung kết đó Ajax đã đánh bại chính Milan. Rijkaard cũng có tên trong FIFA 100, bản danh sách của Pele về 125 cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.

Kết thúc sự nghiệp cầu thủ lừng lẫy, Rijkaard tiếp tục chinh phạt những cột mốc mới của bóng đá trong vai trò huấn luyện viên. Năm 1998, ông chính thức được bổ nhiệm làm HLV trưởng ĐTQG Hà Lan. Trước đó Rijkaard đã là trợ lý huấn luyện tại đây, cùng với Johan Neeskens và Ronald Koeman, giúp đỡ rất nhiều cho HLV trưởng Guus Hiddink. Ban đầu, vị HLV trẻ không được đánh giá cao do ông vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm cầm quân. Nhưng màn trình diễn của đội bóng xứ sở hoa Tuy-líp tại Euro 2000 đã chứng minh khả năng của ông. Hà Lan vượt qua vòng đấu bảng với 3 trận toàn thắng trước CH Séc, Đan Mạch và Pháp. Ở tứ kết "cơn lốc màu da cam" đã cuốn phăng Yugoslavia với tỉ số đậm nhất giải: 6-1. Tuy nhiên ở bán kết,đội bóng của Rijkaard đã phải dừng bước trước Italy sau loạt luân lưu may rủi, và vị HLV người Hà Lan từ chức ngay sau đó. Đến năm 2001, Rijkaard ký hợp đồng với Sparta Rotterdam tại giải VĐQG Hà Lan, nhưng đã không làm được gì nhiều tại đây. Cuối mùa giải CLB xuống hạng và Rijkaard bị buộc thôi việc.

Sau gần 1 năm rời xa sân cỏ, vào mùa hè 2003 Rijkaard đến với sân Camp Nou. Vào thời điểm này, CLB đang có nhiều thay đổi, Joan Laporta trở thành vị chủ tịch mới, và theo đó hàng ngũ ban lãnh đạo cũng có nhiều xáo trộn. Lúc này đang có nhiều ý kiến trái chiều về việc Laporta không tạo điều kiện cho tiền vệ người Anh David Beckham gia nhập CLB, và các cổ động viên có vẻ không hài lòng về điều đó. Với đội hình hầu hết là những gương mặt cũ, Rijkaard cũng gặp nhiều khó khăn ban đầu. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của những người trợ lý đồng hương như Henk Ten Cate hay Eusebio Sacristan (cựu thành viên "Dream Team") và bản hợp đồng mới, ngôi sao đang lên Ronaldinho, Rijkaard cũng dần dần ổn định được đội hình.

2 năm đầu tiên, với những khởi đầu chậm chạp, vị HLV người Hà Lan đã phải chịu đựng rất nhiều sự chỉ trích từ công chúng, đỉnh điểm là tháng 12 năm 2003, khi Barça thất bại 1-2 trước Real Madrid ngay tại sân Camp Nou. Khi đó rất nhiều CĐV đã kêu gọi ông từ chức, nhưng Rijkaard vẫn kiên trì đi tiếp, vì ông biết rằng sẽ có 1 ngày vinh quang đến với ông tại đây. Tháng 1 năm 2004, Rijkaard mang về sân Camp Nou tiền vệ Edgar Davids trong 1 bản hợp đồng cho mượn từ Juventus. Từ đó dường như cỗ máy Barcelona mới bắt đầu vào guồng, Barça liên tiếp giành những chiến thắng, trận siêu kinh điển lượt về năm đó, đội bóng Blaugrana đã thanh toán sòng phẳng với Real bằng chiến thắng 2-1 trên sân Bernabeu, và kết thúc mùa giải với vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng (trước đó đã có thời điểm đội bóng xứ Catalan rớt xuống gần nhóm xuống hạng). Mùa giải tiếp theo, với hàng loạt những cái tên mới trong đội hình như Deco, Samuel Eto'o, Rafael Márquez, Ludovic Giuly, Larsson, Edmílson, Belletti và Sylvinho, cùng vài cầu thủ tài năng đưa lên từ đội trẻ như Víctor Valdés, Carles Puyol, Xavi và Andrés Iniesta, Rijkaard đã xây dựng được một đội hình mạnh mẽ và ổn định, với khả năng tấn công đa dạng dựa trên sức sáng tạo vô bờ bến của Ronaldinho. Bất chấp 4 chấn thương nghiêm trọng của Motta, Gabri, Edmílson và Larsson vào giai đoạn trước mùa đông, Barça với lối đá tấn công đã giành chức vô địch La Liga một cách đầy thuyết phục trước 3 vòng đấu.

Mùa giải 2005-2006 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp của vị HLV người Hà Lan khi ông cùng các học trò, ngoài việc giành chức vô địch La Liga, đã bước lên đỉnh châu Âu với danh hiệu vô địch Champions League. Tại La Liga, Barça thể hiện sức mạnh của mình với chuỗi 14 trận thắng liên tiếp, bao gồm cả chiến thắng 3 bàn không gỡ trước đại kình địch Real Madrid ngay tại sân Bernabéu, trận đấu đó cũng khiến Rijkaard trở thành vị HLV đầu tiên của Barcelona giành được 2 thắng lợi tại Santiago Bernabéu, điều mà thậm chí những Johan Cruiff, Louis van Gaal hay Luis Aragonés cũng đã không thể hoàn thành. Tại đấu trường châu Âu, Barça lần lượt đánh bại Chelsea tại Stamford Bridge với tỉ số 1-2, Milan tại San Siro với tỉ số 0-1, và cuối cùng, đội bóng Blaugrana đã hoàn tất cuộc chinh phục bằng chiến thắng trước Arsenal với tỉ số 2-1 trong trận chung kết trên sân Stade de France, Paris, với 2 bàn thắng của Henrik Larsson và Juliano Belletti. Cùng với đó, Rijkaard trở thành 1 trong 5 người duy nhất đã từng vô địch châu Âu cả trên danh nghĩa cầu thủ và huấn luyện viên, cùng với Miguel Muñoz, Giovanni Trapattoni, Johan Cruiff và Carlo Ancelotti. Ngày 8/3/2006 Rijkaard được UEFA vinh danh bởi những đóng góp của ông cho European Cup trong vai trò cầu thủ và huấn luyện viên. Năm đó, Rijkaard cũng được IFFHS chọn làm huấn luyện viên trưởng tiêu biểu của năm, đứng trên José Mourinho và Juande Ramos.

Sau 1 năm đầy thành công, vô địch cả Siêu cúp Tây Ban Nha sau chiến thắng 4-0 trước Espanyol, đến mùa giải 2006-07, Barça dường như không còn ý chí chiến đấu. Đội bóng chủ sân Camp Nou để Liverpool vượt qua tại vòng 1/16 Champions League bằng luật bàn thắng trên sân khách. Tại La Liga, Barça để mất danh hiệu vô địch thứ 3 liên tiếp vào tay Real Madrid do kém hiệu số bàn thắng bại. Cũng trong chuỗi thất bại ấy, Barça bị Getafe loại khỏi vòng bán kết cúp Nhà vua với tỉ số 4-0. Thêm vào đó, sau những thất bại cay đắng trước Seville và Internacional de Porto Alegre, Barça cũng đánh mất Siêu cúp châu Âu và Cúp vô địch thế giới các CLB. Danh hiệu duy nhất của đội bóng Blaugrana năm đó là chiếc Catalan Cup, với Espanyol là đội về nhì.

Mùa hè 2007, sân Camp Nou lại xuất hiện những gương mặt mới như Thierry Henry, Yaya Touré, Eríc Abidal và Gabriel Milito, và với một đội hình được coi là rất mạnh trong lịch sử CLB, Barça được kỳ vọng rất nhiều bởi người hâm mộ. Nhưng số phận đã chống lại đội bóng Blaugrana, mặc dù đều được đánh giá là chơi hay hơn đối thủ, Barça vẫn bị loại ở cả bán kết Champions League trước Manchester United, lẫn ở bán kết cúp Nhà vua trước Valencia. Tại La Liga, đội bóng xứ Catalan cũng chỉ giành được vị trí thứ 3...

Sau trận thua trước Manchester United tại bán kết Champions League năm đó, Rijkaard một lần nữa đứng trước sức ép rất lớn từ dư luận, và ông đã trả lời với báo chí: "I have no intention of leaving. It would be different if the players were saying it is time for me to go but that is not the case." (Tôi không có ý định rời khỏi CLB. Nếu như các cầu thủ nói rằng đây là lúc để tôi từ bỏ chiếc ghế HLV trưởng, điều đó sẽ khác. Nhưng thực tế các cầu thủ đã không hề nói vậy.")

Ngày 1/5/2008, có những nguồn tin nói rằng Frank Rijkaard đã tâm sự với 1 đồng nghiệp về việc ông sẽ rời băng ghế chỉ đạo Barcelona. Nhưng 24 giờ sau, trong 1 cuộc họp báo, Rijkaard chính thức phủ nhận thông tin trên.

Ngày 8/5/2008, sau thất bại 4-1 trước Real Madrid ngay tại Camp Nou, chủ tịch CLB Joan Laporta tuyên bố kết thúc mùa giải Frank Rijkaard sẽ rời CLB, và người thay thế sẽ là Josep Guardiola. Laporta đã ngợi khen và bày tỏ sự kính trọng cũng như lòng biết ơn đối với Frank Rijkaard sau những thành công lịch sử mà ông mang lại cho CLB trong suốt 5 năm gắn bó: 2 danh hiệu La Liga (2004-05, 2005-06), UEFA Champions League 2006, 2 Siêu cúp Tây Ban Nha (2005-06, 2006-07) và 3 Catalan Cup (2003-04, 2004-05 và 2006-07). Dưới thời Rijkaard, Barcelona cũng đánh dấu sự trở lại sau 5 năm trắng tay, lấy lại hình ảnh một đội bóng hàng đầu Tây Ban Nha và châu Âu, với lối đá tấn công quyến rũ khiến cả thế giới bị mê hoặc.

Rijkaard đã dẫn dắt Barça trong tổng cộng 283 trận đấu chính thức, giành 167 chiến thắng, 64 trận hoà và 52 trận thua, trong đó Barça ghi được 544 bàn thắng và để thủng lưới 254 lần. Tỉ lệ chiến thắng của đội bóng Blaugrana dưới thời Rijkaard là 59%, với trung bình 1.92 bàn thắng và 0.89 bàn thua mỗi trận. 112 chiến thắng tại La Liga cũng là một thành tích đáng nể của ông, trước Rijkaard chỉ có 1 người làm được điều đó là Johan Cruyff với 183 trận thắng.

Hiện tại, Rijkaard đang là HLV trưởng CLB Galatasaray tại giải VĐQG Thổ Nhĩ Kỳ. Hợp đồng của ông sẽ kết thúc vào mùa hè năm 2011, và liên đoàn bóng đá Úc đã có lời mời ông thay thế vị trí của Pim Verbeek, người sẽ ra đi sau World Cup 2010.

Chủ đề về Frank Rijkaard