Menu
02-05 2010

László Kubala

Ladislau KubalaLászló Kubala Stecz còn được gọi là Kubala Stécz László, hoặc Ladislav "Laci" Kubala, Ladislao Kubala. Ngày ra đời của một thiên tài bóng đá.

Ông đã từng chơi cho ba đội tuyển quốc gia khác nhau: Tiệp Khắc, Hungary và Tây Ban Nha, cũng như Đội tuyển những ngôi sao của Châu Âu và ĐT Catalan.

Trong suốt những năm 1950 ông là một ngôi sao hàng đầu , là thủ lĩnh của FC Barcelona thành công vang dội. Trong suốt sự nghiệp của mình chơi cho các câu lạc bộ ông đã ghi 274 bàn trong 345 trận. Năm 1999, trong lễ kỷ niệm 100 năm của câu lạc bộ, đã có 1 cuộc thăm dò, kết quả: Ông được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử CLB.

Khi giải nghệ sự nhiệp cầu thủ, ông bắt đầu một sự nghiệp làm huấn luyện viên. Ông đã 2 lần là huấn luyện viên của FC Barcelona. Ông cũng dẫn dắt cả hai đội: ĐTQG Tây Ban Nha và Olympic Tây Ban Nha.

 

Tượng đài vĩ đại nhất của Los Blaugrana - Ladislav " Laci " Kubala .


1. Thời thơ ấu và trai trẻ

Kubala được sinh ra ở Budapest - Thủ đô Hungary. Mẹ ông là người Tiệp Khắc gốc Hungary làm công nhân trong 1 nhà máy, trong đó cha ông là người Tiệp Khắc gốc Ba Lan - một thợ nề, cả hai đến từ Bratislava (Tiệp Khắc cũ).

Ông bắt đầu sự nghiệp của mình như là một cầu thủ tập sự với Ganz TE, 1 CLB hạng 3 ở Hungary. Ở tuổi 11, ông đã thường xuyên chơi trong đội với những cầu thủ lớn hơn ông từ 3-5 tuổi. Năm 18 tuổi, ông đã ký hợp đồng chơi cho Ferencváros TC nơi có một đồng đội nổi danh khác là Sándor Kocsis. Năm 1946 ông chuyển đến Tiệp Khắc để tránh nghĩa vụ quân sự gia nhập CLB SK Slovan Bratislava. Năm 1947 Kubala kết hôn với Anna Viola Daučík - con gái của huấn luyện viên SK: Ferdinand Daučík. Năm 1948 ông trở về Hungary, một lần nữa để tránh phải gia nhập quân đội và tham gia CLB Vasas SC.

2. Những tháng ngày tị nạn

Tháng giêng năm 1949, Hungary đã trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Kubala đã rời khỏi khỏi đất nước trong một xe tải. Ban đầu, ông đã tới Đại Sứ Quán Mỹ tại Áo và sau đó chuyển sang Italia. Tại đó ông thi đấu một thời gian ngắn cho Pro Patria. Trong tháng 5 năm 1949, ông cũng đã đồng ý chơi cho Torino. Trong trận đấu gặp lại SL Benfica rất may mắn ông ra muộn lỡ chuyến bay khi con trai ông bị bệnh. Trên đường trở về từ Lisbon máy bay chở đội bóng Torino đã rơi vào những ngọn đồi ở Superga, 31 người trên máy bay tử nạn.

Trong khi đó, Liên đoàn bóng đá Hungary buộc tội ông đã vi phạm hợp đồng, rời khỏi đất nước mà không được phép và không làm nghĩa vụ quân sự. FIFA hậu thuẫn cho họ và áp đặt lệnh cầm thi đấu quốc tế trong một năm . Trong tháng 1 năm 1950 Kubala cùng với Ferdinand Daučík là huấn luyện viên thành lập đội tuyển Hungary. Đội tuyển này được tạo ra từ những người tị nạn trốn tù ở cộng đồng Đông Âu. Trong mùa hè năm 1950 đội đến Tây Ban Nha để chơi một loạt các giao hữu với với các ngôi sao Madrid, đội tuyển Tây Ban Nha và RCD Espanyol.

Trong những trận đấu này Kubala đã được phát hiện tài năng bởi cả Real Madrid và Josep Samitier chuyên gia săn lùng tài năng của Barcelona. Kubala đã được đề nghị ký một hợp đồng với Real nhưng bị thuyết phục bởi Samitier để gia nhập Barcelona. Samitier đã sử dụng các mối quan hệ của mình trong chế độ Franco để giúp thu xếp vụ chuyển nhượng này . Trong giữa Chiến tranh Lạnh, Kubala đã đào thoát sang phương Tây và được sử dụng để tuyên truyền của chế độ Franco, thực hiện một bộ phim : Tìm kiếm ngôi sao cho hòa bình trong đó có Kubala và Samitier diễn xuất .


3. Sự nghiệp huy hoàng trong mầu áo FC Barcelona

Kubala ký hợp đồng chơi cho Barcelona vào ngày 15 Tháng Sáu 1950 và là một phần của thỏa thuận cho phép Daučík Ferdinand trở thành huấn luyện viên Barcelona. Do lệnh cấm thi đấu của Fifa nên Kubala đã không thể tham gia mùa giải La Liga đầu tiên của mình cho đến năm 1951. Tuy nhiên ông được phép chơi giao hữu và trong hai trận liên tiếp gặp Frankfurter SV, Barcelona thắng 4-1 và 10-4, ông lập tức tỏa sáng ghi được 6 bàn và kiến tạo 5 đường chuyền. Ông cũng chơi tại Copa del Generalísimo và giúp các câu lạc bộ giành được cúp năm 1951.

Mùa giải La Liga đầu tiên của mình 1951-1952, Kubala ghi được 26 bàn trong 19 trận đấu. Ấn tượng nhất là 7 bàn thắng trong trận thắng 9-0 trước Sporting de Gijón, 5 bàn thắng vào lưới Celta de Vigo và hat-trick trước Sevilla và Racing de Santander. Ông cũng ghi bàn trong trận chung kết Copa del Generalísimo , Barcelona đánh bại Valencia 4-2. Mùa giải này Barça thành công rực rỡ. Huấn luyện viên Daucik và Kubala cùng với những danh thủ khác như Emilio Aldecoa, Velasco, Joan Segarra và Ramallets đã truyền cảm hứng cho đội bóng để giành chiến thắng liên hoàn: La Liga, Copa del Generalísimo, Latin Cup và Copa Eva Duarte. Không rõ vì lý do gì mà Kubala bỏ lỡ mùa giải 1952-1953 và đe dọa sẽ kết thúc sự nghiệp cầu thủ . Tuy nhiên ông đã hồi phục thần kỳ và quay trở lại để giúp Barcelona vô địch cả La Liga và Copa del Generalísimo. Ông lại ghi bàn trong trận chung kết Copa del Generalísimo giành chiến thắng 2-1 trước Athletic Bilbao.

Năm 1958 Kubala thuyết phục hai người đồng hương Hungary tị nạn : Sándor Kocsis , Zoltán Czibor tham gia với mình ở Barcelona .Cùng với huyền thoại Luis Suárez và Evaristo, họ tạo thành hạt nhân của đội bóng chiến thắng bằng một cú đúp : La Liga và Copa del Generalísimo vào năm 1959 và một La Liga / Fairs Cup năm 1960. Tuy nhiên Kubala không được HLV Helenio Herrera yêu thích và mất chỗ đứng của mình trong CLB. Kết quả là ông đã bỏ lỡ cúp châu Âu 1960, trận bán kết lượt về với Real Madrid CF , Barcelona đã thua với tổng tỷ số 6-2 . Kết quả đó khiến Herrera bị sa thải và Kubala trở lại đội hình chính thức. Tại cúp C1 châu Âu năm 1961 , Barcelona đã trở thành câu lạc bộ đầu tiên đánh bại được Real Madrid. Lấy cảm hứng từ Kubala họ giành được chiến thắng 4-3 chung cuộc và lọt vào chung kết thua Benfica 3-2.
Kubala đã kết thúc sự nghiệp cầu thủ lẫy lừng vào năm 1961 và bước đầu đã trở thành một huấn luyện viên đội trẻ ở Barcelona trước khi trở thành huấn luyện viên của CLB cho mùa bóng 1962-1963. Nhưng sau khi bị mất Cúp Hội chợ vào tay Red Star Belgrade (Sao đỏ Bê-ô-grát) ông đã bị cách chức.

4. Sự nghiệp quốc tế

Kubala chơi cho ba đội quốc tế khác nhau - Tiệp Khắc, Hungary và Tây Ban Nha. Trong khi chơi cho SK Slovan Bratislava, ông khoác áo 6 lần và ghi được 4 bàn cho Tiệp Khắc những năm 1946 và 1947. Sau khi trở về Budapest năm 1948, ông chơi 3 trận cho Hungary nhưng không ghi được bàn thắng nào. Sau khi được nhập quốc tịch Tây Ban Nha ông đã chơi 19 trận và ghi được 11 bàn thắng cho ĐTQG Tây Ban Nha ( 1953 và 1961 ).
Điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp quốc tế của ông đã được một hat-trick cho Tây Ban Nha chiến thắng trước Thổ Nhĩ Kỳ 3-0 vào tháng 11 năm 1957. Mặc dù đang chơi cho ba nước khác nhau, Kubala chưa bao giờ được chơi 1 trận chung kết của một giải quốc tế lớn. Ông có trong thành phần đội tuyển Tây Ban Nha dự Cúp bóng đá thế giới 1962 cùng với Alfredo Di Stéfano, đen đủi là ông lại bị chấn thương.

 



Kubala và kình địch Di Stefano (lúc này Real Madrid chưa dùng sức ép để có được Di Stefano)

Cũng như việc chơi cho ba đội quốc tế khác nhau, Kubala triệu tập cho Đội tuyển các ngôi sao Châu Âu và ĐT Ngôi sao của Catalan.
Ngày 21 tháng 10 năm 1953, nước Anh thành lập ĐT ngôi sao Châu Âu tại sân vận động Wembley để kỷ niệm 90 năm của FA và Kubala tỏa sáng ghi 2 bàn trong trận đấu có tỷ số là 4-4. Ông cũng đã chơi 4 trận và ghi 4 lần cho đội tuyển Catalan. Vào ngày 26 Tháng 1 1955 trong một trận gặp Bologna tại Les Corts (sân cũ của Barcelona), ông chơi cùng kình địch Alfredo Di Stéfano trong đọi tuyển Ngôi sao của Catalan thắng 6-2 với hai bàn thắng của Kubala và một từ Di Stéfano.
Trận đấu cuối cùng trong cuộc đời của ông trong đội tuyển Ngôi sao của Catalan ngày 04 tháng 3 năm 1993 tại Sân vận động Montjuïc để đấu với đội tuyển Ngôi sao quốc tế. Ông chỉ chơi 10 phút trong trận đấu ở tuổi 65.

5. Sự nghiệp HLV

Sau khi rời Barcelona, Kubala chấp nhận một hợp đồng như là một cầu thủ - huấn luyện viên với RCD Espanyol cùng hợp tác với Alfredo Di Stéfano. Trong thời gian của mình tại RCD Espanyol ông tặng La Liga đầu tiên cho con trai của mình - Branko. Năm 1966 ông gia nhập FC Zurich, một lần nữa là cầu thủ kiêm huấn luyện viên, cuối cùng câu lạc bộ của ông lọt vào chung kết và thua Celtic. Năm 1967 Kubala đã đi đến Canada làm huấn luyện viên cho Toronto Falcon, ông rất vui mừng khi đoàn tụ gia đình với Yanko Daucik và Branko con trai của ông.

Đến cuối năm 1968 ông đã quay trở lại La Liga, và sau một thời kỳ ngắn ngủi ở Cordoba CF, ông trở thành huấn luyện viên của đội tuyển Tây Ban Nha. Kubala đã kết thúc sự vắng mặt của Tây Ban Nha sau 12 năm khi ông đã dẫn dắt đội bóng đến World Cup 1978 nhưng ông không thể đưa đội bóng vượt qua vòng bảng. Ông cũng dẫn dắt Tây Ban Nha tại Euro 80 và một lần nữa lại xách va li về nước sau vòng đấu bảng.

Năm 1980 ông trở về Barcelona làm huấn luyện viên cho một thời kỳ ngắn ngủi thứ hai trước khi chuyển đến Ả-Rập-Xê-Út nơi ông ký hợp đồng với Al-Hilal. Sau đó ông còn dẫn dắt 3 câu lạc bộ khác tại La Liga trong đó giúp CD Málaga vô địch Segunda División năm 1988. Thành tích ấn tượng nhất của ông là dẫn dắt Olympic Tây Ban Nha đoạt huy chương vàng bóng đá nam tại Thế vận hội năm 1992. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy ông trên băng ghế chỉ đạo là huấn luyện đội tuyển Paraguay vào năm 1995 .

Kubala là huyền thoại với vô số phẩm chất tuyệt vời , ông có một kỹ năng lừa bóng riêng biệt kết hợp cùng tốc độ kinh người. Kubala luôn giữ sự bình thản đáng ngạc nhiên trong mọi tình huống và tạo ra một thứ quyền năng tối thượng trong những đợt tấn công. Ngoài ra, ông còn là một trong những chuyên gia sút phạt vĩ đại nhất trong lịch sử, người có thể vẽ những đường cong kỳ dị cùng trái bóng với tốc độ cao và cực kỳ chính xác!

Huyền thoại của những huyền thoại : Kubala đã mãi mãi ra đi vào ngày 17 tháng 5 năm 2002 tại Barcelona - nơi đã chào đón một thiên tài và giữ lại ông vĩnh viễn.

 

 

Bảng vàng thành tích :

Họ tên: László Kubala Stecz
Vị trí : Tiền vệ công / Tiền đạo
Chiều cao : 1m76

Độ bóng đã qua : Năm / Số trận / Bàn thắng

1944 :Ganz TE / 9 / 2 bàn
1945–1946 :Ferencváros TC / 49 / 27 bàn
1946–1948 :ŠK Slovan Bratislava / 33 / 14 bàn
1948–1949 :Vasas SC / 20 / 10 bàn
1949–1950 :Pro Patria
1950 :Hungaria
1951–1961 :FC Barcelona / 186 / 131 bàn
1963–1965 :RCD Espanyol / 29
1966–1967 :FC Zürich

ĐT QG :

1946–1947 : Tiệp Khắc / 6 / 4 bàn
1948 : Hungary / 3
1953–1961 : Spain / 19 / 11 bàn
1953 : Europe XI / 1 / 2 bàn
1954–1963 : Catalan XI / 4 / 4 bàn

Sự nghiệp HLV :

1961–1963 : FC Barcelona
1963–1966 : RCD Espanyol
1966–1967 : FC Zürich
1968 : Toronto Falcons
1968–1969 : Cordoba CF
1969–1980 : Spain
1980–1982 : FC Barcelona
1982–1986 : Al-Hilal
1986 : Real Murcia
1987–1988 : CD Málaga
1988–1989 : Elche CF
1992 : Spain Olympic Team
1995 : Paraguay

Danh hiệu :

Inter-Cities Fairs Cup: 1957 -1958 , 1959 -1960
Latin Cup : 1960
La Liga : 1951-52, 1952-53, 1958-59, 1959-60
Copa del Generalísimo: 1951, 1952, 1953, 1957, 1959
Copa Eva Duarte: 1952, 1953