Menu
Cầu thủ

Cầu thủ (48)

26/03/2013 - 16:00

Ronaldo Luiz Nazario

Published in Cầu thủ Written by

Tên đầy đủ: Ronaldo Luiz Nazario de Lima

Ngày sinh: 22 tháng 9 năm 1976

Nơi sinh: Rio de Janeiro - Brazil

Vị trí thi đấu: Trung phong

Mùa giải khoác áo Barça: 1996-97

Đá 37 trận, ghi 34 bàn tại Liga

Ronaldo Luis Nazário de Lima sinh 22 tháng 09 năm 1976 tại Rio de Janeiro, thường được biết với tên Ronaldo, là một cầu thủ bóng đá người Brazil. Ronaldo có biệt danh là "Người ngoài hành tinh". Vua bóng đá Pelé đã xếp Ronaldo vào danh sách 125 cầu thủ còn sống xuất sắc nhất tháng 3 năm 2004. Năm 1999, tạp chí World Soccer xếp anh đứng hạng 9 trong danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế kỉ 20. Năm 2007 tạp chí France Football đã bầu anh vào đội hình 11 cầu thủ giỏi nhất mọi thời đại, nhưng đối với nhiều người nói đến Ronaldo đơn giản là nói đến cầu thủ hay nhất mọi thời đại (thời điểm anh còn thi đấu trở về trước).

Ronaldo sinh ra trong một gia đình nghèo khó sống ở khu ngoại ô Bento Ribeiro, đây là nơi anh làm quen với bóng đá đường phố từ tuổi ấu thơ.

Lúc nhỏ anh không ham học nhưng rất mê đá bóng. Anh thường nói: "Tại Brazil, đường phố là trường đại học tốt nhất mà bạn có thể theo học". Gia đình anh khá bất ổn, cha mẹ ly dị vào năm anh 17 tuổi. Lúc ấy Ronaldo chơi cho Cruzeiro và là người kiếm tiền nuôi gia đình. Tài năng bóng đá của anh phát triển rất sớm.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Ronaldo khởi đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp của mình tại CLB Cruzero vào năm 1993 sau những thể hiện ấn tượng tại CLB Sao Cristovao và đội tuyển U17 Brazil. Anh ghi được 58 bàn sau 60 trận đấu khoác áo Cruzero trong đó có 5 bàn thắng ghi trong một trận đấu, một thành tích quá đáng nể đối với một chàng trai mới 17 tuổi.

Tuy nhiên mùa giải 1993 - 1994 đó cũng là mùa giải duy nhất mà người dân Brazil được chứng kiến anh thi đấu cho một đội bóng quê nhà cho đến mãi về sau.

PSV - Nơi ươm mầm của một thiên tài

Năm 1994 sau World Cup tại Mỹ, tuy không ra sân trận nào nhưng Ronaldo đã được sự chú ý của rất nhiều câu lạc bộ châu Âu. PSV Einhoven đã nhanh tay có được anh bằng một hợp đồng trị giá 4 triệu bảng. Trong màu áo của PSV, anh tự giới thiệu mình khá đau đớn với các fan của đội bóng Hà Lan bằng một cú va đầu vào cửa sân bay. Nhưng sau đó đã ghi được tới 34 bàn sau 37 trận trong mùa đầu tiên, trở thành vua phá lưới của giải - một thành tích phi thường với một cầu thủ 18 tuổi.

Chỉ 2 năm chơi bóng tại Hà Lan, nơi anh đã ghi đến 42 bàn sau 46 trận tại giải vô địch quốc gia Hà Lan, 55 bàn trong 57 trận chính thức cho PSV.

Tuy nhiên ở mùa bóng 1995 - 1996, anh bị một chấn thương nặng nơi đầu gối làm cho phải thường xuyên ngồi ngoài sân. Khi ấy Inter và Barcelona đều tỏ ý muốn ký hợp đồng với ngôi sao này. PSV Einhoven đã nhanh chóng thương lượng với cả hai. Mùa hè năm 1996, Barcelona chính thức có được Ronaldo sau một vụ kiện Bosman mà Inter Milan đã thua cuộc do không có đủ 20 triệu bảng tiền chuyển nhượng.

Barça - Người ngoài hành tinh xuất hiện

Và tại sân Camp Nou, thế giới mới thực sự ngả mũ cúi chào trước cuộc chinh phục của chàng trai Brazil trẻ tuổi. Ngay trong mùa giải đầu tiên chơi cho Barça, một trong những câu lạc bộ lớn nhất thế giới, Ronaldo đã khẳng định mình là một siêu sao đích thực.

Anh đã thể hiện một cách chơi bóng riêng biệt, với sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa tốc độ và kỹ thuật cá nhân, cộng với tinh thần chiến đấu ở mức cao nhất, những bước chạy thần tốc, khả năng ghi bàn kinh hoàng, 47 bàn thắng trong 49 trận chính thức cho Barça, trong đó nổi tiếng nhất là bàn thắng trong trận gặp Compostela ngày 13 tháng 10 năm 1996 tại giải La Liga pha ghi bàn trong cú nước rút dài 55m, kéo dài 15 giây, vượt qua sự đeo bám, chặt chém của 8 cầu thủ Compostela mãi là hình ảnh đáng nhớ nhất của Ronaldo trong màu áo đội bóng Catalan.

Càng ngày, Ronaldo càng nổi tiếng. Những bàn thắng của anh được chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên khắp thế giới, Cuối giải, anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 34 bàn thắng sau 37 trận. Mùa giải ấy Barcelona không vô địch La Liga, nhưng Ronaldo đã góp công lớn đưa đội đoạt cúp Tây Ban Nha và cúp C2 sau khi vượt qua đội bóng nước Pháp PSG.

Vô địch cúp C2 trong màu áo Barça

Với những thể hiện xuất sắc trong năm đầu tiên chơi cho FC Barcelona, Ronaldo được bạn đọc của tạp chí World Soccer bầu cho nhiều danh hiệu cao quý, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm. Sau đó được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA - ở tuổi 19, anh là người trẻ nhất đoạt danh hiệu này trong lịch sử. Trong lần bình chọn cho Quả bóng vàng châu Âu, anh về hạng nhì và chỉ thua người về nhất Matthias Sammer 1 điểm.

"Hơn cả Pele, hơn cả Maradona, chàng trai này đã chinh phục cả một đất nước" - đó là lời tán tụng mà đã được Marca, một tờ báo của người Madrid, dành cho Ronaldo, một cầu thủ của Barça.

Suốt trong 2 năm 1996-97 , Ronaldo - được gọi là "người ngoài hành tinh" - hầu như không có đối thủ cạnh tranh xứng đáng trong cuộc bình chọn.

Năm 1997, trong khi Ronaldo đang ở Bolivia để đá cho đội tuyển quốc gia, câu lạc bộ Ý Inter Milan đã đến Barcelona để thương lượng về việc chuyển nhượng. Barcelona không chịu thoả thuận song Ronaldo đã quyết định mua lại hợp đồng trị giá 18 triệu bảng Anh để được chuyển sang chơi cho Serie A. Lại thêm một vụ kiện giữa hai đội bóng lớn và lần này FIFA đã xử Inter thắng kiện.

Tuy chỉ gắn bó với Barça trong một mùa giải nhưng những gì Ronaldo để lại chắc không thể phai nhạt được trong tâm trí của mỗi Culé dù về sau anh có ra đi để khoác áo Inter hay trở lại Liga trong màu áo của siêu đại kình địch Real Madrid.

Đội tuyển quốc gia - vui buồn qua các kì World Cup

Ở vị trí tiền đạo, Ronaldo có được nhiều thành công trên đấu trường quốc tế: vô địch World Cup 1994 và World Cup 2002 cùng đội tuyển Brazil. Với 15 bàn thắng qua 3 kì World Cup, Ronaldo đang giữ kỉ lục ghi bàn tại đấu trường bóng đá lớn nhất này.

Ronaldo được gọi vào đội tuyển quốc gia Brazil vào năm 1994, dự World Cup tại Mỹ nhưng không đá trận nào. Mãi đến tháng 10 năm 1995, sau khi ghi 2 bàn vào lưới tuyển Uruquay trong trận thắng đội này 2-0, Ronaldo bắt đầu được trọng dụng. Anh trở thành một cầu thủ trụ cột trên hàng công cùng với Romário, tạo thành cặp bài trùng Ro - Ro nổi tiếng thế giới một thời.

Tại World Cup 1998, Ronaldo được bầu là cầu thủ chơi hay nhất giải (tính tới trước trận chung kết) với 4 bàn thắng ghi được và 4 pha chuyền bóng lập công. Bàn thắng đầu tiên anh ghi được tại World Cup là trong trận gặp Maroc. Sau đó là một cú đúp khi đối đầu với đội tuyển Chile - một đội bóng được đánh giá cao với cặp Marcelo Salas - Iván Zamorano nổi tiếng.

Tại trận bán kết gặp đội tuyển Hà Lan - trận đấu được bầu là hay nhất trong các kỳ World Cup - Ronaldo đã ghi một bàn thắng quan trọng. Đó là một bàn thắng khó: nhận được đường chuyền của đồng đội trong sự kèm cặp của Edgar Davids và Deboe, Ronaldo đã khéo léo đẩy bóng luồn qua hai chân của Edwin van der Sar đưa bóng vào lưới. Anh cũng góp công cho chiến thắng của Brazil trong loạt sút luân lưu 11m khi hoàn thành bổn phận của mình.

Nhưng ở trận chung kết gặp Pháp, vì một dấu hiệu không tốt về thể trạng, Ronaldo đá không tốt và Brazil thất bại dưới tay đội tuyển Pháp bằng một tỉ số đậm đà: 0-3.

Năm 2002, huấn luyện viên Felippe Scolari ghi tên anh vào danh sách dự World Cup. Ban đầu không ai hi vọng nhiều vào Ronaldo, nhưng Scolari vẫn cho anh chơi ở vị trí trung phong, cùng với Rivaldo và đáp lại sự tin tưởng của người thầy phong độ cực kì ấn tượng của Ronaldo tại giải năm đó đã giúp Brazil chinh phục chiếc cup vàng danh giá lần thứ 5 trong lịch sử.

Cuối giải, Ronaldo giành danh hiệu vua phá lưới với 8 bàn thắng, phá vỡ mức 6 bàn của một vua phá lưới đã có từ năm 1986. Mùa hè năm 2006, Ronaldo theo đội tuyển đến Đức tham dự World Cup 2006. Dù thể trạng nặng nề và phong độ tại cấp câu lạc bộ có vẻ xuống, anh vẫn được các tổ chức cá cược đặt cược cao nhất cho danh hiệu vua phá lưới.

World Cup 2006 tuy là một thất bại của tuyển Brazil, nhưng cũng có thể xem là một thành công đối với cá nhân Ronaldo khi anh đã chính thức xô đổ kỉ lục của Gerd Müller để trở thành chân sút xuất sắc nhất qua mọi kỳ World Cup với 15 bàn thắng.

Ronaldo là một cầu thủ kỳ lạ trong bóng đá thế giới khi lần lượt phản bội các đội bóng của mình. Sau khi khoác áo Barça, Ronaldo bỏ sang Inter Milan và bị chấn thương hành hạ. Những tưởng sẽ phải từ giã sự nghiệp thì chủ tịch Inter đã cố công chạy chữa cho Ronaldo được trở lại sân cỏ và tỏa sáng giành chức vô địch World Cup 2002. Thói phản bội của Ronaldo bắt đầu được thể hiện khi anh bỏ Inter (đội bóng đã nuôi và chữa trị suốt 4 năm trời) để sang Real Madrid. Đây là lần Judas đầu tiên. Sau này khi đến cuối sự nghiệp, Ronaldo tiếp tục gây sốc khi chọn đầu quân cho kình địch AC Milan của Inter. Cái tên Ronaldo được người hâm mộ Inter xóa khỏi bộ nhớ và về sau khi Rô béo tuyên bố là Madridista thì các Culer cũng liệt cầu thủ Brazil vào dạng Judas không cần quan tâm.

26/03/2013 - 15:58

Luis Enrique Martinez

Published in Cầu thủ Written by

Thông tin cầu thủ:

Tên: Luis Enrique Martinez

Sinh : 8-5-1970

Cao: 180 cm

Cân nặng: 73 kg

Vị trí : tiền vệ

Chơi cho FC Barcelona từ 1996-2003

Luis Enrique Martinez gia nhập FC Barcelona vào mùa hè năm 1996, sau khi hết hạn hợp đồng với Real Madrid, đội bóng mà anh đã chơi trong 5 mùa bóng.

"The Austurian" đến Camp Nou từ kẻ thù truyền kiếp của Barça và đó là nguyên nhân đầu tiên của sự nghi nhờ từ một số cổ động viên. Tuy nhiên,anh đã nhanh chóng thích nghi với câu lạc bộ, trở thành một trong những cầu thủ chủ chốt của Barça.

Tính linh hoạt là điểm chủ yếu về thể lực của anh và có lẽ chính đặc điểm này đã vạch rõ lối chơi của Luis Enrique. Anh hạnh phúc nhất khi được chơi ở vị trí tiền đạo trung tâm, mặc dù thông thường anh chơi sát cạnh tiền đạo chính của đội bóng. Chăm chỉ, bền bỉ, chơi hết mình, tính khí thất thường và là một tiền đạo ghi bàn tốc độ, anh chưa bao giờ bỏ cuộc, ngay cả khi những pha ngáng chân làm anh ngã.

Luis Enrique bắt đầu chơi bóng ở Ensitosa. Thành tích tốt của anh với câu lạc bộ đã bị bỏ qua bởi HLV Asturian và đội bóng hạng nhất Oviedo, sau đó là tình yêu với Sporting Gijon. Cuối cùng anh đã chọn con đường đến Gijon.

Sự nghiệp của anh ở Sporting như sao băng. Anh đá trận ra mắt ở hạng nhất mùa giải năm 1989-1990 khi mới 19 tuổi và chỉ ít hơn một năm, anh đã trở thành phát hiện lớn của giải với 15 bàn thắng. Điều đó đã gợi sự thích thú từ Johan Cruff của Barça và Real Madrid - đội bóng cuối cùng đã ký hợp đồng với anh với giá 250 triệu peseta.

Trong 5 mùa giải khoác áo CLB thành Madrid, cầu thủ trẻ đến từ Gijon luôn được ca ngợi là tương lai của Madrid, là người kế cận xứng đáng cho Hugo Sanchez hay Ivan Zamorano. 21 tuổi, Enrique đã xuất hiện trong màu áo đội tuyển quốc gia. Nhưng tại Madrid, sự nghiệp của anh ngày càng có dấu hiệu đi xuống. Không hài lòng với cá tính mạnh mẽ đặc trưng của một thanh niên xứ Gijon, Lorenzo Sanz - chủ tịch của Real Madrid, và Jorge Valdano, người mới trở lại nắm quyền tại câu lạc bộ đã đầy ải Enrique trên băng ghế dự bị.

Không muốn chết dần chết mòn, Enrique ra đi, và anh đã quyết định thi đấu cho Barcelona. Đội bóng đã tạo ra những cơ hội thích hợp và đặt niềm tin vào anh. Với Barça, Luis Enrique tìm thấy niềm vui chơi bóng. Trên sân cỏ, anh luôn là mẫu cầu thủ thi đấu xả thân vì đội bóng. Lối chơi máu lửa, hết mình của anh truyền cảm hứng cho đồng đội. Luis Enrique dần đạt đến đỉnh cao và trở thành cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất vào thời điểm đó.

"Chiến binh" Luis Enrique

Nhưng ấn tượng lớn nhất về Luis Enrique chính là những trận Siêu Kinh Điển.

Như để buộc người Madrid ân hận vì quyết định của mình, Enrique luôn tỏa sáng trong những trận cầu kinh điển. Đến mức mà sau trận El Clasico mùa bóng 98/99 trên sân Camp Nou (Luis Enrique ghi 2 bàn trong chiến thắng 3-0), Lorenzo Sanz đã phải cay đắng thừa nhận: ''Để Enrique sang Barcelona là một trong những sai lầm lớn nhất trong đời tôi''.

Cùng với Barcelona, Enrique đã vươn tới nhiều danh hiệu cao quý trong sự nghiệp cầu thủ. Đầu tiên là dưới thời Bobby Robson, anh đã có cúp Nhà vua và cúp C2. Sau đó với Luis Van Gaal là 2 danh hiệu Liga, 1 siêu cúp Châu Âu và 1 cúp Nhà vua. Luis Enrique cũng thành công với HCV Olympic tại thế vận hội Barcelona 1992.

Luis Enrique đã ở lại và cống hiến cho Barcelona đến những ngày cuối cùng của sự nghiệp. Anh giải nghệ năm 2003, sau một thời gian liên tục gặp chấn thương. Hình ảnh một Luis Enrique dũng mãnh, người đội trưởng tận tuỵ sẽ còn được nhớ mãi trong sự luyến tiếc của các Barçamania.

26/03/2013 - 15:55

Romario da Souza

Published in Cầu thủ Written by

Romario

Sinh tại : Jio de janeiro ( Brazil)

Ngày sinh: 29-01-1966

Sự nghiệp cầu thủ:

Vasco da Gama (1980-1988)

PSV Eindhoven (1988-1993 - 109 trận/98 bàn thắng)

FC Barcelona (1993-1995 - 46 trận/34 bàn thắng)

Flamengo Rio de Janeiro (1995-1996 - 59 trận/60 bàn thắng)

CF Valencia (1996 - 5/4)

Flamengo Rio de Janeiro (1997-1999)

Vasco da Gama (2000 - 2007)

Thành tích:

3 chức vô địch Hà Lan các năm 1989, 1991, 1992

2 Cúp quốc gia Hà Lan ( Dutch Cup) 1989, 1990

Vô địch quốc gia Tây Ban Nha năm 1994.

Copa America 1989, 1997

Vô địch World Cup 1994

Các danh hiệu:

Vua phá lưới giải Hà Lan 1989, 1991

Vua phá lưới giải Tây Ban Nha 1994

Cầu thủ xuất sắc nhất Fifa năm 1994

FC Barcelona: 1993-1995 - thi đấu 46 trận ghi 34 bàn thắng

Tên đầy đủ của anh là Romario de Sauze. Anh sinh ngày 29-1-1966 trong một gia đình ngèo. Ngay từ bé anh đã sớm bộc lộ tài năng bóng đá thiên bẩm của mình. Năm 1979, Vasco Da Gama phát hiện ra anh, đưa về đào tạo nhưng họ cũng sớm loại anh vì cho rằng anh quá bé nhỏ. Anh chuyển đến chơi cho một câu lạc bộ nhỏ mang tên Olario. Những gì anh thể hiện ở đây khiến cho mọi người sững sờ. Vasco nhận ra rằng họ vừa đánh mất 1 viên ngọc quý, và họ tìm mọi cách để đưa anh trở lại. Romario bắt đầu có đất để thể hiện mình. Anh trở thành tiền đạo nổi tiếng thế giới. Anh không có thể hình tốt, không có những cú sút kẻ chỉ, cũng chẳng có tốc độ kinh hoàng, nhưng bù lại Romario có đôi chân ma thuật, sự nhạy cảm trong ghi bàn và kỹ thuật chạy chỗ thật tuyệt vời. Anh là vua trong phạm vi hẹp! Chỉ cần chừng đấy là anh đã đủ để có mặt trong ngôi đền của huyền thoại, với tư cách là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất của lịch sử bóng đá.

Sau thời gian tích luỹ các cúp, các danh hiệu vua phá lưới tại Vasco da Gama, Eindhoven, anh được tượng đài Johan Cruyft đưa về sân Camp Nou. Và anh đã chứng minh rằng quyết định của Thánh Johan là hoàn toàn sáng suốt. Người dân Catalan như phát cuồng vì đã tìm được một thần tương mới. Anh là nguồn cảm hứng cho đồng đội, đã ghi hàng loạt bàn thắng cho đội bóng Barça . Anh cùng với Koeman, Stoichkov, Laudrup, Zubirazetta, Nadal...hợp thành đội hình Dream Team gây kinh hoàng cho toàn Châu Âu. Anh đã cùng Barça giành chức vô địch Liga lần thứ 4 liên tiếp. Anh cũng đã giành danh hiệu vua phá lưới năm 94. Tại Barca, anh mới đạt đỉnh cao phong độ của mình, anh trở thành tiền đạo xuất sắc nhất thế giới lúc bấy giờ. Cũng năm đó, Barça lọt vào chung kết với "kẻ xâm lăng" đến từ Milan của HLV Capello. Đó là kỷ niêm buồn với Romario. Barça đã thất thủ với tỉ số 0-4. Romario mờ nhạt. Cả cỗ máy thiếu mất đầu tàu cũng gần như ngừng hoạt động. Người ta đã trách Romario rất nhiều. Nhưng không nhiều người biết rằng: trước trận đấu cha của Romario đã bị bắt cóc. Những kẻ bắt cóc không đòi tiền chuộc mà chỉ cần xem Romario "thể hiện" trong trận chung kết để quyết định số phận của cha anh...

Khép lại mùa bóng đó, Romario lại thi đấu nổi bật tại USA 94. Anh giành danh hiệu Quả bóng vàng một cách rất xứng đáng cùng với chức vô địch cho đội bóng của xứ sở Samba. Ngay sau khi trở về từ Mỹ - anh mới biết mình đã bị bán cho Flamengo để kiếm lời - đó cũng là cái cách mà sau này Ronaldo rồi Figo ra đi...Tuy nhiên anh vẫn nói: "Tôi yêu thành phố Barcelona. Những ngày tháng tại đây thật tuyệt vời đối với tôi"...

Năm 2000 tất cả các fan hâm mộ của Romario và Barça đều trông đợi một sự trở lại; khi Romario đã mở lời: "Chỉ có Barça trong trái tim tôi - và câu lạc bộ duy nhất có thể đưa tôi về với Châu Âu là Barça." Tuy nhiên mọi mong ước đã không xảy ra... Romario đã không chuyển đến Barca. Có lẽ ban huấn luyện Barça cho rằng anh đã qua thời kỳ đỉnh cao phong độ - Sau này chính Gaspart thú nhận: "Tôi đã quên một điều rằng - Romario là một cầu thủ không có tuổi". Với những gì đã làm anh xứng đáng một chỗ trong phòng truyền thống của Barça cùng với các tiền bối Kubala, Cruyff...

Romario cũng đã đi vào lịch sử bóng đá thế giới khi có được bàn thắng thứ 1000 cho riêng mình - Một thành tích rất khó xảy ra trong bóng đá hiện đại ngày nay.

Romario và câu chuyện cổ tích

Những khu phố nghèo ở Rio de Janeiro xưa nay vẫn nổi tiếng với những tiếng vui đùa của bọn trẻ con đá bóng dưới lòng đường phố, với chúng dường như bóng đá là thú vui duy nhất để có thể giúp chúng quên đi những lo lắng về vật chất mà bố mẹ của chúng phải xoay sở, và cũng vì lẽ đó đã có biết bao nhiêu đứa trẻ đã thành danh bằng chính cái nghề "đá bóng" này để giúp gia đình đổi đời.

Bóng đá Nam Mỹ nói chung cũng như bóng đá Brazil nói riêng từ lâu đã được coi là vườn ươm cho những tài năng trẻ phát triển bởi những năng khiếu bẩm sinh có sẵn trong bất kỳ đứa trẻ đam mê môn thể thao vua này ở đất nước của vũ điệu Samba. Bọn trẻ con ở đây đá bóng tối ngày, sáng sớm cũng tụ tập đá bóng, khi các đường phố đã lên đèn thì tiếng nô đùa của bọn trẻ vẫn chưa dứt, thế nhưng con đường thực sự để nổi tiếng trên toàn thế giới thì không phải đứa bé nào cũng có được. Với những bạn cùng trang lứa, Romario đã có cái may mắn hơn hẳn nhờ những phẩm chất siêu việt của mình.

Sinh ra ở một khu phố nghèo, đời sống thấp kém bậc nhất của Rio de Janeiro, Romario cũng giống như bao bạn bè là chỉ đá bóng và phụ giúp các việc lặt vặt cho gia đình. Thân hình bé nhỏ và chắc nịch sau những giờ "lao động" trong gia đình đã tạo nên cho cậu bé Romario một tính cách lầm lì, khó gần và cục tính. Cũng chỉ vì tranh cướp một quả bóng với đám bạn mà Romario đã từng đánh nhau với cậu bạn đến nỗi bố mẹ phải can thì mới thôi. Chính bởi tính cách lầm lì đó đã giúp cho Romario được tâm lý thi đấu cực tốt khi chơi bóng, cộng với những phẩm chất cá nhân sẵn có, Romario đã được vào lò đào tạo trẻ của địa phương.

Romário de Souza Faria là tên đầy đủ của anh chàng tiền đạo nhỏ con này, thế nhưng cái tên Romário (Romario) vẫn được mọi người gọi một cách trìu mến khi nhắc tới anh. Nói đến Romario và đất nước Brazil thì đó như là một câu chuyện cổ tích đầy ly kỳ và thú vị của cuộc đời cầu thủ lắm tài nhưng cũng nhiều tật này...

Bắt đầu từ Vasco da Gama...

Trải qua các đội bóng nghiệp dư ở các giải trẻ, Vasco da Gama chính thức là nơi ghi dấu đầu tiên trong sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của Romario. Chính nơi đây là bệ phóng cho Romario phát triển thêm tài năng của mình. Chức vô địch mùa giải 1987 và 1988 sau 4 mùa giải chơi cho Vasco da Gama là danh hiệu quý giá đầu tiên của anh chàng trước khi bước sang chân trời mới...

"Nhãn quan" tuyệt vời của Piet de Visser...

Lặn lội sang tận bên kia bán cầu để đi săn lùng các tài năng trẻ, Piet de Visser là chuyên gia săn lùng cầu thủ của PSV Eindhoven. Quan sát một thời gian dài tuy nhiên chỉ có cái tên Romario là được lọt vào danh sách của ông. Và PSV Eindhoven đã không thể bỏ lõ cơ hội quý giá của mình để chiêu mộ bằng được chàng "lùn" này. Có lẽ Piet de Visser đã không hề nuối tiếc về quyết định của mình bởi trong 4 năm thi đấu cho PSV, Romario đã cùng câu lạc bộ đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác. Cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 là thời kỳ hoàng kim của PSV, câu lạc bộ này đã giành được tới 3 chức vô địch quốc gia, 2 cúp quốc gia và 1 siêu cup Hà Lan. Tên tuổi của Romario nhanh chóng được khẳng định ở trời Âu và là mục tiêu chuyển nhượng hàng đầu của các đội bóng lớn....

Sức cuốn hút của Dream Team...

Dream Team khi đó đang là đội bóng đáng được xem nhất thế giới, với trong đội hình gồm những hảo thủ như Laudrup, Stoichkov, Zubizarreta, Koeman..., Romario chính là mảnh ghép còn thiếu duy nhất trong ý nghĩ của Johan Cruyff. Cuối cùng thì "phù thuỷ" người Hà Lan này cũng đã đạt được mong muốn của mình. Sở hữu trong tay đội hình mạnh nhất, Barcelona lần lượt loại các đối thủ trên con đường chinh phục danh hiệu Champions League lần thứ 2 trong lịch sử. Tuy nhiên AC Milan đã không cho Romario và các đồng đội có được cơ hội đó. Còn tại Liga năm đó, Romario đã trở thành hung thần cho các thủ môn đối phương. Anh đã hoàn tất chiến thắng cho Barça với danh hiệu Pichichi cho riêng mình với 30 bàn thắng cả mùa giải trên tổng số 91 bàn thắng mà Barça có được ở mùa giải đó. Khi còn chơi bóng trên sân Camp Nou, có một trận đấu mà Romario không thể nào quên đó là trận đè bẹp Real Madrid trên thánh địa Camp Nou với tỷ số 5-0, trận đấu đó Romario đã lập cú hattrick, kỳ tích đó tận 13 năm sau Messi mới có thể lặp lại được cho Barca. Tuy nhiên việc ra đi của Romario vào cuối mùa bóng là điều được mọi người dự đoán từ trước khi mà Dream Team không còn đoàn kết nữa, Dream Team "tan đàn xẻ nghé" và Barça cũng không còn là chính mình sau khi những ngôi sao rời bỏ đội bóng...

Câu chuyện cổ tích mùa hè năm 1994...

Chơi nổi bật trong màu áo Barça, Romario đã được huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Brazil là Parreira triệu tập để thi đấu tại Copa America năm đó. Quá háo hức với lần triệu tập này, Romario đã từ thành phố Barcelona bay nửa vòng trái đất trở về quê nhà để thi đấu. Thế nhưng món quà mà Romario đã được HLV Parreira ban tặng cho là phải ngồi mài quần trên băng ghế dự bị do tính khí nóng nảy của mình. Giận dỗi với quyết định đó đã gây ra mâu thuẫn giữa anh chàng và vị huấn luyện viên trưởng khó tính. Kể từ đó Romario chỉ về thi đấu cho Barcelona.

Vòng chung kết World Cup 1994 tại Mỹ đang đến gần và Brazil có thể có nguy cơ bị loại bởi phong độ yếu kém của mình. Chơi trong bảng đấu gồm nhiều đối thủ khó nhằn, Brazil đã không có được phong độ tốt nhất và chịu tạm đứng thứ 2 của bảng đấu trước khi vòng đấu loại cuối cùng diễn ra, Brazil buộc phải thắng Urugoay trong trận đấu cuối cùng thì mới có thể giành được ngôi đầu bảng. Dư luận Brazil khi đó lên tiếng chỉ trích và gây sức ép cho HLV Parreira phải triệu tập Romario vào đội tuyển. Và điều thần kỳ đã đến khi chính Romario lập cú đúp giúp Brazil giành thắng lợi 2-0 trước Urugoay để đứng đầu bảng và nghiễm nhiên giành 1 suất thẳng đến USA 94, đây quả là màn "trả đũa" không thể tốt hơn mà Romario tặng cho người thày của mình. Qua đó Romario có tên chính thức trong danh sách đến Mỹ cùng người bạn thân Bebeto.

Thế nhưng câu chuyện cổ tích này vẫn chưa dừng lại ở đó. Brazil tiếp dài chuỗi trận bất bại để giành cúp vàng Thế Giới sau khi đánh bại Italia trong trận chung kết bằng màn đấu súng nghẹt thở. Mùa Hè đó Romario đã ghi 5 bàn thắng để giúp Brazil lên ngôi, sau chiến thắng đó của Brazil nhiều người vẫn tin vào chỉ có xảy ra trong chuyện cổ tích mới ly kỳ đến thế...

Hồi hương rồi trở lại Liga để rồi lại hồi hương - vòng tuần hoàn chưa chấm dứt...

Sau chiến thắng lên mây ở Mỹ, Romario đã quyết định rời bỏ La Liga để trở về quê nhà thi đấu cho một đội bóng khác của Rio de Janeiro là Flamengo. Tuy nhiên trong lần tái ngộ này Romario đã thi đấu không được tốt như mong đợi. Và Valencia đã chèo kéo để chàng lùn này về với mình. Chơi 2 mùa bóng với Valencia và được thi đấu có 9 trận nhưng anh cũng đã ghi tới 5 bàn thắng. Quá ít cơ hội được ra sân, Romario lại có quyết định dở chứng quay trở lại thi đấu cho Flamengo, nhiều người cho rằng đó là quyết định sau khi Romario bị cơn chấn thương quái ác đúng vào lúc đội tuyển Brazil chuẩn bị lên đường tới Pháp để tham dự Worla Cup 1998. Mùa hè nước Pháp đã không có Romario như ở Mỹ cách đó 4 năm. Người ta đã không thể được chứng kiến cặp đôi Ro-Ro (Romario-Ronaldo) cùng làm tan nát bao hàng phòng ngự, và có thể đó chính là lý do tại sao Romario lại tỏ ra chán nản và muốn trở về quê hương đến thế. Khi đó Romario đã 32 tuổi, độ tuổi của bên kia sự nghiệp thi đấu. Người ta tin rằng Anh sớm sẽ giải nghệ một khi con đường quay trở lại đội tuyển quốc gia ngày càng trở nên mờ mịt và nhất là Brazil đã tìm được người thủ lĩnh khác trên hàng công khi đó đang khoác áo Barcelona - Rivaldo....

Bôn ba khắp nơi....

Sau khi chơi một mùa bóng cho Flamengo, Romario quay trở lại đội bóng đã cưu mang mình là Vasco da Gama. Anh tiếp tục chơi bóng ở đây cho đến năm 2002 và 1 năm sau lại chuyển đến Flamengo. Nhiều người cho rằng đây là quyết định kỳ quặc khi anh là khách du lịch làm 1 chuyến khứ hồi giữa Vasco da Gama và Flamengo quá nhiều. Dường như vẫn mến mộ tài năng của tuyển thủ Brazil này, câu lạc bộ Al Saad của Qatar quyết định mời anh về thi đấu với mức lương cao ngất ngưởng, nhưng với bản tính khó chiều của mình Romario chỉ trụ lại được ở Trung Đông có 3 tháng và Fluminense (một đội bóng khác của Rio de Janeiro) là bến đỗ mới của Romario. Cuộc dạo chơi vẫn chưa chấm dứt tại đây khi anh còn chuyển đi chuyển lại với rất nhiều CLB khác theo vòng tuần hoàn khép kín : Vasco da Gama - Miami FC - Adelaïde United - Tupi - Adelaïde United - Vasco da Gama. Có một điều đặc biệt là Romario vẫn ghi bàn đều đặn bất chấp trong hàon cảnh như thế nào. Và không ai có thể tin được là một "ông già" lại có thể trở thành Vua phá lưới của giải vô địch quốc gia Brazil ở độ tuổi 39...

Romario - người đi vào lịch sử bóng đá thể giới

Lão tướng Romario (41 tuổi) đã có được bàn thắng thứ 1.000 sau 23 năm thi đấu, trong trận cầu giữa Vasco và Sport of Recife thuộc vòng 2 giải VĐQG Brazil. Bàn thắng được ghi từ chấm phạt đền. Sau pha làm bàn này, trận đấu đã bị gián đoạn trong 16 phút khi gia đình, vợ và các con của Romario cùng rất nhiều phóng viên đã chạy ùa vào sân để chúc mừng và phỏng vấn cựu tiền đạo của Barcelona. Romario sau đó cũng đã chạy quanh SVĐ Sao Januario để chia vui cùng các CĐV.

Romario đã đi vào lịch sử bóng đá thế giới với tư cách là người thứ 3 ghi được 1000 bàn thắng. Nhiều người cho rằng có tới 71 bàn thắng do Romario ghi được là trong các giải đấu không chính thức, khi còn thi đấu cho đội bóng nghiệp dư hay với các đội bóng yếu nên không nên công nhận. Nhưng Pele cũng đã ghi rất nhiều bàn thắng kiểu như vậy. Có phải mọi người đã thần tượng hoá Pele mà quên đi mất còn có một nhân vật khác là anh, con người đã bước sang tuổi 41 và vẫn chứng minh cho mọi người thấy câu chuyện cổ tích của mình vẫn chưa có hồi kết thúc....

26/03/2013 - 15:53

Hristo Stòitxkov

Published in Cầu thủ Written by

Tên: Hristo Stoichkov

Số áo: 8.

Sinh nhật: 8-2-1966 .

Các mùa bóng với Barça:

-1990-1991 :VĐQG, giành 'Heneralitat' Cup , ghi được 14 bàn, cùng Barça vào chung kết cúp C2 và là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của Bulgari.

-1991-1992 : Giành Champions League, VĐQG, Siêu cúp Tây Ban Nha, ghi 17 bàn, cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu - onze, Quả bóng bạc - Fifa, Quả bóng bạc - France Football, cầu thủ xuất sắc nhất năm của Bulgari.

-1992-1993 :VĐQG, siêu cúp Châu Âu, siêu cúp Tây Ban Nha , 'Heneralitat' Cup, ghi 20 bàn.

-1993-1994 :VĐQG, lần thứ 4 là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của Bulgari, qủa bóng bạc - Fifa, quả bóng vàng - France Football.

-1994-1995 : siêu cúp Tây Ban Nha.

-1996-1997 : siêu cúp Tây Ban Nha, cúp Nhà Vua và cúp C2

-1997-1998 : siêu cúp Châu Âu

Stoichkov, vẫn được gọi là "Itso", sinh ngày 8-2-1966 ở Plovdiv, Bulgaria. Theo lời kể của mẹ anh, Penka, thì Hristo được sinh ra "với một quả bóng giữa 2 chân...". Ban đầu chú bé Hristo chỉ được tập luyện ở đội bóng địa phương Maritsa mà nhiệm vụ chính là nhặt bóng nhưng rất nhanh, chú nhóc 10 tuổi đã thể hiện sự tiến bộ vượt bậc và được đá chính.

Đến năm 1984, Hristo rời Maritsa để chơi cho đội bóng Hebar của Harmali, chỉ một năm chơi cho Hebar anh đã nổi bật như một thiên tài và được nhìn nhận là ngôi sao tương lai của bóng đá Bulgaria. Không lâu sau, năm 1985, Manol Manalov- một chuyên gia săn tìm tài năng trẻ của CSKA Sofia đã nhận thấy ở Hristo những phẩm chất đặc biệt và đã đưa anh về đội bóng. Ở đây, Hristo đã được gặp HLV Dimitar Penev và chính nhờ sự giúp đỡ của Penev mà tài năng của Hristo đã được đưa lên một tầm cao mới.

Về với CSKA, Stoichkov rất nhanh chóng trở thành nhân vật chính của đội bóng,ngay ở mùa bóng đầu tiên anh đã mang lại cho CSKA cú đúp ở giải vô địch quốc gia và cúp quốc gia Bulgaria. Đến năm 1989 là cú đúp thứ 2 đồng thời anh chiếm luôn 2 danh hiệu cá nhân dành cho cầu thủ xuất sắc nhất Bulgaria và Vua phá lưới với 23 bàn thắng. Cũng trong mùa giải đó anh đã dẫn dắt CSKA vào đến tứ kết cúp C2. Trong trận đấu đó CSKA đã thất bại trước Barcelona nhưng với màn trình diễn xuất sắc của mình Hristo đã gây ấn tượng mạnh với HLV của Barça, Johan Cruyff. Rất thích thú với tiền đạo thuân chân trái này, Cruyff đã lập tức ký với anh một bản hợp đồng kỷ lục của CLB khi đó là 4,5 triệu bảng.

Stoichkov trong màu áo Barça

Từ năm 1990 đến 1994, Hristo liên tục ghi bàn cho Barça. Trong thời gian đó, anh là đầu tàu của một Barça " khủng khiếp" đã thống trị Primera Liga suốt 4 năm( 91-94) mà đỉnh cao là năm 1992, khi Barça đánh bại Sampdoria ở trận chung kết Champions League.

Stoichkov và chiếc cúp lịch sử

Stoichkov đã trở thành anh hùng trong con mắt của các cổ động viên của đội bóng, kết hợp với Romario ở tuyến trên, khi đó hàng công của Barça là không thể ngăn chặn và là nỗi kinh hoàng với bất kỳ hàng thủ nào.

Có thể nói rằng thời gian thi đấu ở Barça chính là thời kỳ đỉnh cao của Stoichkov. Cùng với những thành công tại Barça, anh cũng đã đưa ĐT Bulgaria tới tận tứ kết World Cup 1994 với 6 bàn thắng (đồng Vua phá lưới World Cup 1994).

Năm 1995, Stoichkov rời Barça sang thi đấu cho Parma với bản hợp đồng trị giá 15 triệu bảng. Nhưng 2 năm sau, anh trở lại Barça và cùng Barça giành một loạt danh hiệu như cúp C2, cúp Nhà vua, siêu cúp Tây Ban Nha. Cùng năm đó, anh chuyển sang thi đấu cho Al-Nasr của Arab-Saudi.

Trong sự ngiệp cầu thủ lẫy lừng của mình, Stoichkov đã 5 lần được bầu chọn là cầu thủ hay nhất Bulgaria, 2 lần giành được chiếc giày vàng, là cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu năm 1994, Onze vàng năm 1992.

Stoichkov - người đã đi vào lịch sử Barça

Với Barça thì Stoichkov đã hầu như dành đựoc tất cả nhưng danh hiệu: chiến thắng ở Champions League, cúp C2, siêu cúp Châu Âu, VĐQG, cúp Nhà vua, Siêu cúp Tây Ban Nha,...với 119 bàn thắng trong 255 trận đấu.

27/06/2012 - 13:39

Josep 'Pep' Guardiola

Published in Cầu thủ Written by

Pep Guardiola

Nơi sinh: Santpedor (Tây Ba Nha)

Sinh nhật: 18/01/1971.

Sự nghiệp cầu thủ

28/6/84 - 1991: FC Barcelona B

1991 - 2001: FC Barcelona (268 trận/ 6 bàn thắng)

Brescia Calcio (2001-2002)

A.S Roma ( 2002-..)

Thành tích

La Liga: 6 (1991,1992,1993,1994,1998,1999)

Siêu cúp TBN: 4 (1991,1992,1994,1996)

Champions league: 1 (1992)

Siêu cúp châu Âu: 2 (1993,1998)

Copa del Rey: 2 (1997,1998)

Cúp C2: 1 (1997)

Thi đấu 46 trận cho đội tuyển TBN, ghi 5 bàn thắng

Josep Guardiola Sala gia nhập Barcelona ngày 28 tháng 6 năm 1984 từ Gimnàstic de Manresa sau kết quả từ sự nỗ lực của Oriol Tort. Chàng cầu thủ có biệt danh 'gã trai Santpedor' đến với Barça từ khi còn là một cậu bé, và đã thi đấu cho tất cả các đội trẻ của Barça cho đến khi được đưa lên đội hình chính.

Johan Cruyff đã cho Guardiola cơ hội thử sức đầu tiên trong 1 trận đấu của Barça tại Liga trên sân Camp Nou vào ngày 16 tháng 12 năm 1990. Ở tuổi 20, anh là một trong những cầu thủ góp công lớn nhất trong việc làm nên Dream Team.

Guardiola chiếm 1 vị trí quan trọng nhất trong đội hình lúc đó, anh là thủ lĩnh khu vực giữa sân, là cầu nối giữa hàng phòng ngự và tuyến trên, là người lãnh đạo, người cầm nhịp cho đội bóng. Cùng với Dream Team, Guardiola đã làm mưa làm gió trên đấu trường châu Âu, bảng vàng thành tích của anh chẳng còn thiếu chiếc cúp danh giá nào.

Guardiola luôn chơi bóng với 1 phong thái nhàn nhã

Guardiola chơi giữa hàng phòng ngự và hàng tiền vệ, là cầu thủ phát động hầu như tất cả các đợt tấn công của Barca. Anh là người phân phối bóng, người điều khiển nhịp độ trận đấu. Cầm và giữ bóng, giữ vai trò quan trọng trong lối chơi của Barca, thậm chí điều khiển cả lối chơi của đồng đội. Có thể nói không ngoa rằng Guardiola chính là chìa khoá để cỗ máy Barcelona vận hành một cách hoàn hảo.

Johan và Pep

Chàng tiền vệ đến từ Santpedor đã được nhận băng đội trưởng từ Bakero. Anh là cầu thủ được hâm mộ nhất trong đội hình Barça thời đó, tình yêu của anh với CLB đã chinh phục tất cả các cổ động viên, và anh từ lâu đã là một biểu tượng của Barça, cái bóng của anh bao trùm khắp cả sân Camp Nou, anh là một tấm gương để các cầu thủ tại La Masia noi theo.

Mùa giải 97-98 thực sự là một cơn ác mộng của Guardiola bởi chấn thương gân kheo, chấn thương này đã làm anh phải nghỉ thi đấu trong gần 1 năm, cầu thủ đội trưởng của Barça có những lúc thưởng chừng như phải chấm dứt sự nghiệp cầu thủ khi đang ở đỉnh cao phong độ. Nhưng sau cuộc phẫu thuật, cùng với 1 thời gian dài bình phục, anh đã lại có thể tiếp tục thi đấu. Nhưng vết chấn thương đó đã khiến Guardiola không thể tham dự World Cup 98 cùng với đội Tây Ban Nha, và Tây Ban Nha đã không thể vượt qua vòng 1, do thiếu vắng vị thủ lĩnh này. Sau một thời gian dài bình phục, anh đã trở lại và tiếp tục cùng với Barça chinh phục những đỉnh cao mới.

Từ khi đến với Barca, 'gã trai Santpedor' đã cùng CLB giành được 6 danh hiệu vô địch Liga, một lỷ lục mà cho đến bây giờ chỉ chịu thua Ramallets huyền thoại.

Trong danh sách những chiếc cúp mà người đội trưởng Dream Team đã giành được còn có cúp C1, C2.... Một thành tích mà bất kỳ cầu thủ nào đều mong ước. Những thành tích đó đã đưa Guardiola trở thành một người hùng của sân Camp Nou, chắc chắn các CĐV sẽ còn nhắc nhiều đến tên anh, cái tên gắn liền với giai đoạn thành công nhất trong lịch sử CLB.

Dù rằng đã giành được mọi vinh quang với Barça, nhưng sự nghiệp của Guardiola tại đội tuyển Tây Ban Nha lại rất khiêm tốn, hầu như không có gì. Anh thi đấu 46 trận cho đội Tây Ban Nha và ghi được 5 bàn thắng.

Sau khi rời sân Camp Nou, Guardiola đã sang thi đấu tại Serie A trong màu áo của Brescia và A.S Roma.

24/06/2012 - 00:22

Ronald Koeman

Published in Cầu thủ Written by

Ronald Koeman

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo khó Zaandam của Hà Lan. Anh sinh ngày 21-3-1963, gia đình anh là một gia đình vốn có truyền thống bóng đá. Anh trai của Ronald Koeman là Erwin Koeman cũng là một cầu thủ chuyên nghiệp, vì thế anh đến với bóng đá rất nhanh. Năm 17 tuổi anh bắt đầu sự nghiệp cầu thủ của mình với tư cách là 1 cầu thủ chuyên nghiệp. FC Groningen chính là nơi khởi đầu của Ronal Koeman, tại đây anh được các cổ động viên vẫn gọi một cách trìu mến là 'Người hùng của hàng phòng thủ'.

Tài năng ngày càng được bộc lộ ở cầu thủ trẻ Ronald, với vóc người cao to Ronal Koeman luôn tạo ra sự an toàn cho đồng đội bởi các pha tranh chấp, không chiến với đối phương và phần thắng thường thuộc về anh. Các câu lạc bộ lớn của Hà Lan bắt đầu để ý và nhòm ngó Roanld Koeman như Ajax Amsterdam, PSV....Và Ajax Amsterdam đã nhanh chân hơn bất cứ đối thủ nào khác, họ đã giành được chữ ký của chàng hậu vệ này. Ronald Koeman thi đấu cho Ajax Amsterdam từ năm 1983 cho tới năm 1986 sau đó chuyển sang PSV với giá 1,5 triệu USD. Các danh hiệu lần lượt đến với anh ở đây. Đặc biệt là chiếc cúp C1 cùng PSV mùa bóng 1987/1988.

Barcelona luôn cố gắng để lôi kéo hậu vệ tài năng này về, và họ phải chi tới 12,5 triệu USD để có được Ronald Koeman vào năm 1989.

Ronald Koeman trong màu áo Barça

Ronald Koeman

Các tên: Ronald Koeman 'Sneeuwvlokje', 'Het Kanon'

Sinh nhật: 21-3-1963

Quốc tịch: Hà Lan

Vị trí thi đấu: Libero

Chiều cao: 1m81

Sự nghiệp cầu thủ ở cấp độ đội tuyển quốc gia

Thi đấu 78 trận đấu cho đội tuyển Hà Lan và ghi được 14 bàn, hiệu suất là 0,18 bàn/trận

Tham gia: World Cup 1990, 1994, EURO 1988, 1992.

Thành tích: vô địch EURO 1988.

Sự nghiệp cầu thủ ở cấp độ câu lạc bộ

FC Groningen( 1980-1983)

Ajax( 1983-1986)

PSV(1986-1989)

Barcelona(1989-1995)

Feyenoord(1995-1997)

Thi đấu 533 trận ghi được 193 bàn, hiệu suất là 0,36 bàn/trận

Thành tích

2 cúp C1 năm 1987/1988, 1991/1992

4 La Liga, Siêu cúp Châu Âu, siêu cúp TBN, Cúp quốc gia Hà Lan, vô địch quốc gia Hà Lan, cúp nhà vua TBN....

Johan Cruyff đặc biệt coi trọng Ronald Koeman và coi anh là một thành phần trụ cột không thể thiếu trong 'Dream Team' sau đó. Chơi cho Barcelona anh thi đấu như một hậu vệ giữa được hỗ trợ bởi 2 hậu vệ chuyên kèm người là Nadal và Albelardo. Anh chính là người chỉ huy hàng phòng ngự nhưng cũng chính là người phát động những đợt tấn công cho các cầu thủ Barça. Nhiều trận đấu Barça bị ép sân một cách dữ dội, Ronald Koeman cùng đồng đội thi đấu quả cảm như những chiến binh dũng cảm nhất, lăn xả quyết liệt nhất và chỉ cần bóng đến chân anh thôi là có một cú sút cực mạnh và cực kỳ chính xác lên tuyến trên, không ai có thể ngờ được rằng những cú sút đầy vô hại đó lại là những đường chuyền vượt tuyến và luôn được Stoichkov hay Salinas tận dụng một cách triệt để rồi kết liễu đối thủ như là một nhát dao đau đớn nhất.

Tuy nhiên không chỉ có thế, anh còn là người luôn xông lên và biết cách ghi bàn trước mọi khung thành đối phương. Có thể nói ở Barcelona, Ronald Koeman đã trở thành huyền thoại. Chàng hậu vệ số 4 này không có tốc độ đeo bám, kỹ thuật cũng vào lại thường, hay chọn sai vị trí và đôi lúc có bất cẩn...nhưng khi nhắc tới lịch sử câu lạc bộ thì không ai là không nhắc tới anh, không ai có thể bỏ qua chàng hậu vệ tóc vàng này. Đơn giản anh là cầu thủ ghi bàn thắng duy nhất cho Barça trong trận chung kết cúp C1 trước Sampdoria và mang về chiếc cúp C1 đầu tiên cho CLB.

Ở Barcelona, vai trò của hậu vệ không được đánh giá cao, người ta không đánh giá phẩm chất phòng ngự của hậu vệ đó mà là xét tới khả năng hỗ trợ tấn công của hậu vệ đó. Thời nay tư duy đó bị phá sản ngay ở Barcelona thế nhưng vào thời kỳ của Ronald Koeman thì nó là một chân lý, bởi mỗi lần Barcelona ra quân thì họ luôn buộc trái bóng nằm trên sân của đối phương. Trong sự nghiệp thi đấu của mình tại Barça, Ronald Koeman mắc quá nhiều sai lầm nghiêm trọng, thế nhưng cũng bao lần anh mang lại cho Barça niềm hạnh phúc khôn tả. Tới Barça vào năm thứ 2 của kỷ nguyên 'Đội hình trong mơ' cùng với Michael Laudrup, Ronald Koeman được biết tới như một chuyên gia sút phạt siêu hạng. Những cú sút của anh trông thật 'mộc mạc' và 'giản dị' nhưng đầy sức mạnh và hiệu quả. Cú sút phạt xé hàng rào của anh trong trận chung kết cúp C1 năm 1992 là một minh chứng hùng hồn nhất.

Koeman và cú sút phạt đáng nhớ

Ngoài sự ngiệp cầu thủ của anh khi còn ở Barça thì anh còn làm trợ lý cho huấn luyện viên Louis Van Gaal năm 1998. Roanld Koeman cũng là người đã khoác áo ở cả 3 câu lạc bộ lớn nhất Hà Lan đó là Ajax Amsterdam, Feyernoord và PSV. Bên cạnh Gulit, Van Basten, Frank Rjikaard... Ronald Koeman còn đoạt được chức vô địch EURO năm 1988.

23/06/2012 - 23:57

Aitor Begiristain

Published in Cầu thủ Written by

Aitor Begiristain

Txiki Beguiristain từng là thành viên trong 'Dream Team' của Barcelona ở thập niên 90 dưới thời huấn luyện viên Johan Cruyff. Sự nghiệp của Txiki Beguiristain cũng thăng trầm như bao cầu thủ khác. Trải qua 4 đội bóng khác nhau là Real Sociedad, Barcelona, Deportivo, Urawa Red Diamonds và đã khoác áo cả đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Sau khi từ giã sự nghiệp sân cỏ, Txiki làm bình luận viên cho đài truyền hình Catalonia và từng là giám đốc kỹ thuật của Barcelona thời Laporta còn làm chủ tịch câu lạc bộ.

Aitor Begiristain Mújica

Quốc tịch: Tây Ban Nha

Sinh nhật: 12-8-1964

Thời gian khoác áo: 1988-1995

Danh hiệu

Real Sociedad

1 siêu cúp Tây Ban Nha (1982)

1 Copa del Rey (1987)

FC Barcelona

1 cúp châu Âu (1991/92)

4 La Liga : 1990/91, 1991/92, 1992/93, 1993/94

1 cúp C2 (1989)

1 siêu cúp châu Âu (1992)

1 Copa del Rey (1990)

Deportivo de La Coruña

1 siêu cúp Tây Ban Nha (1995)

Beguiristain có tên thật là Aitor Beguiristain Mújica. Sinh ra và lớn lên tại Olaberria, Guipuzcoa. Beguiristain sinh ngày 12-8-1964 trong thời điểm mà cả đất nước Tây Ban Nha hoan hỷ với chức vô địch EURO 1964 đầu tiên. Mọi người vẫn thường gọi anh với cái tên trìu mến là Txiki Beguiristain khi anh thi đấu ở Tây Ban Nha vào những năm thập niên 80 của thế kỷ trước. Vốn ham mê trái bóng từ nhỏ và có năng khiếu bóng đá bẩm sinh, Txiki Beguiristain sớm được hãnh diện khoác áo cầu thủ chuyên nghiệp thi đấu tại giải đấu cao nhất của Tây Ban Nha. Khởi nghiệp ở vị trí tiền vệ phòng thủ thế nhưng với những phẩm chất đáng quý sẵn có của mình Txiki Beguiristain đã buộc phải nhớ đến anh trong vai trò của 1 người hộ công xuất sắc. Và vị trí tiền vệ tấn công đã trở thành sở trường đối với Txiki.

Beguiristain được chơi những trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên trong cuộc đời mình ở màu áo của Real Sociedad. Năm 1982 anh đã lọt vào mắt xanh  huấn luyện viên John Toshack của Real Sociedad. Ông đã phát hiện ra tài năng của chàng trai trẻ 18 tuổi này và lôi kéo về bằng được. Và ông đã không hề nuối tiếc về quyết định của mình. Tên tuổi của Beguiristain nhanh chóng được khẳng định ngay sau đó. Bên cạnh những đồng đội xuất sắc như Luis Arconada, Roberto López Ufarte, José Mari Bakero và López-Rekarte đã đem lại nhiều chiến thắng ngọt ngào cho cổ động viên nhà. Và chiến thắng ngọt ngào nhất phải nói đến đó là Real Sociedad giành được chiếc cúp nhà Vua năm 1987. Trận đấu đó Beguiristain đã thi đấu xuất sắc khi kiến tạo cơ hội cho đồng đội và tự mình trực tiếp ghi 1 bàn thắng trong trận hòa 2-2 với A.Madrid, trận đấu sau đó đã kết thúc với phần thắng nghiêng về Sociedad sau loạt thi đấu luân lưu. Đó là những khoảng thời gian mà Real Sociedad thăng hoa, thậm chí có lúc Real Sociedad đã đè bẹp Barça của Linker, Bend Schuster...với tỷ số 4-1. Trong 187 lần khoác áo Real Sociedad, Tixiki đã ghi được 23 bàn thắng và rất nhiều lần kiến tạo các cơ hội cho các đồng đội. Tuy nhiên 'tuần trăng mật' với Real Socieda không thể kéo dài được lâu khi Barcelona tỏ ra là mảnh đất quá màu mỡ để anh phát huy thêm tài năng. Hơn nữa 2 đồng đội của anh ở Real Sociedad là Bakero và López-Rekarte cũng đã chuyển tới đầu quân cho đội bóng xứ Catalan. Và Barcelona đã có được sự phục vụ của anh vào mùa thu năm 1988 để bắt đầu mở ra cho Barça bước sang 1 trang sử mới...

Aitor Beguiristain

Màn ra mắt của Txiki quả là mỹ mãn khi Barça giành chiến thắng trước đội bóng Varsseveld với tỷ số đậm đà 6-1 trong 1 trận đấu giao hữu. Tuy không trực tiếp ghi bàn nhưng Txiki đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho Soler, Amor, Roberto và Miller ghi bàn. 'Mối tình' mới với FC Barcelona bắt đầu tốt đẹp từ đó. Txiki liên tục có mặt trong đội hình xuất phát của Barça ở các trận đấu giao hữu sau đó. Và không có gì tốt đẹp hơn đối với Txiki khi anh có tên trong đội hình xuất phát trong trận khai mạc Liga với đội bóng láng giềng Espanyol. Trong trận Derby đầy kỷ niệm này Txiki đã trực tiếp ghi 1 bàn thắng góp phần vào chiến thắng trước đàn em Espanyol với tỷ số 2-0. Cùng với những cầu thủ xứ Basques có trong đội hình, Txiki đã cùng với Bakero, Andoni Zubizarreta, Julio Salinas và Goikoetxea tạo nên nền tảng vô cùng vững chắc của 1 'Dream Team' dưới thời Johan Cruyff. Cũng chính với những con người ấy đã đi từ chiến thắng này cho đến chiến thắng khác, đem lại nhiều danh hiệu cho câu lạc bộ. Trong sự nghiệp 7 năm gắn bó với sân Camp Nou, Txiki đã để lại dấu ấn của mình bằng các con số ấn tượng. Anh đã có 63 bàn thắng trong màu áo Barça ở La Liga trên tổng số 223 trận thi đấu. Đáng chú ý nhất ở đây là 2 cú hat-trick vào lưới các đội bóng Real Valladolid (1991) và Real Zaragoza (1993).

Thế nhưng rồi 'Dream Team' đã không còn là uy danh của nó, nội bộ lục đục, các thành viên khác tìm đường thoát thân. Johan Cruyff cũng hờn dỗi mà ra đi. Sau 2 mùa bóng liên tiếp phải kiên nhẫn với chiếc ghế dự bị đã làm Txiki nản lòng. Nhận thấy tương lai của mình ở Camp Nou đang lụy dần, Txiki đã ký vào 1 bản hợp đồng mới với Deportivo La Coruña cùng với 2 ngưòi bạn đã sát cánh cùng anh trong những năm tháng khi còn ở Real Sodciedad là HLV John Toshack và cầu thủ López-Rekarte cũng chuyển từ Barça tới. Khát khao sau bao năm để khẳng định mình cuối cùng cũng được đền đáp khi Txiki cùng Deprortivo đánh bại chủ nhà Real Madrid trên sân Bernabeu với tỷ số 2-1. Với 2 mùa giải, 43 trận đấu trong màu áo của Deportivo tuy Beguiristain chỉ ghi được 4 bàn nhưng đó đều là những bàn thắng đáng quý bằng vàng. Bàn thắng cuối cùng của anh trong màu áo Deportivo cũng chính là bàn thắng duy nhất giúp Deportivo vượt qua CF Extremadura với tỷ số 1-0, và cũng qua đó giúp Deportivo kết thúc ở vị trí thứ 3 của mùa giải 1996/1997. Đó cũng là lần thi đấu cuối cùng của Txiki ở Tây Ban Nha.

Mến mộ tài năng của Txiki, các cổ động viên đã kêu gọi Txiki trở lại. Không để phụ lòng những người hâm mộ túc cầu giáo, một lần nữa Txiki khoác trên mình tấm áo cầu thủ. Ông thi đấu cho câu lạc bộ Urawa Red Diamonds. Sau 2 mùa giải chơi ở Nhật Bản ông quyết định từ giã sự nghiệp sân cỏ.

Trong màu áo đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha, Txiki đã thi đấu 22 trận và ghi được 6 bàn thắng. Trận ra mắt đầu tiên là trận thắng 2-1 trước Czechoslovakia. Ông cũng đã cùng đội tuyển Tây Ban Nha thi đấu ở 2 kỳ đại hội bóng đá lớn là EURO 1988 và World Cup 1994.

23/06/2012 - 22:21

Michael Laudrup

Published in Cầu thủ Written by

Michael Laudrup

Cho tới tận bây giờ cái tên Michael Laudrup vẫn không thể phai nhạt trong lòng người hâm mộ Barcelona. Đơn giản bởi vì anh là người có đóng góp đáng kể vào thành công của Barcelona trong những năm đầu thập kỉ 90, khi mà Dream Team lên ngôi. Và cũng thật đơn giản anh là người phản bội lại Barcelona khi anh sang thi đấu cho đội bóng kình địch Real Madrid và góp sức cho đội bóng này qua mặt Barcelona.Tuy nhiên những gì đóng góp của anh là không thể phủ nhận. Người ta tự hỏi Barcelona có chiếc cúp C1 không nếu không có anh, Barça có thua Ac Milan trong trận chung kết cúp C1 không nếu như anh có tên trong đội hình xuất phát.

'Michelino' Laudrup

Quốc tịch: Đan Mạch

Sinh nhật: 15-6-1964

Mùa giải khoác áo: 1989-1994

Số trận thi đấu: 288

Số bàn thắng: 93

Danh hiệu:

1 cúp Châu Âu (C1) (91/92)

1 siêu cúp châu Âu (1992)

4 La Liga (90/91, 91/92, 92/93, 93/94)

1 Copa Del Rey (89/90)

2 siêu cúp TBN (1991 & 1992)

2 Copa Catalunyas (90/91 & 92/93)

1 chức vô địch Hà Lan cùng Ajax, 1 chức vô địch Seri A, 1 cúp quốc gia Italia cùng Juventus

Trước khi đến với Barcelona, sự nghiệp cầu thủ của Michael Laudrup không được nổi bật cho lắm. Ở Seri A anh đã từng được kỳ vọng tại Juventus và Lazio, thế nhưng đấy không phải là môi trường phù hợp để anh phát huy tài năng. Sự kèm cặp của các hậu vệ đã không cho anh phát huy những phẩm chất kỹ thuật của mình. Sau những thất vọng đó Michael Laudrup đã quyết định tìm một môi trường bóng đá mới mà ở đó hội tụ những kỹ thuật để anh có thể phô diễn. Thời điểm đó đã có 1 câu lạc bộ đáp ứng được yêu cầu của anh - đó là FC Barcelona. Barcelona thời điểm đó được dẫn dắt bởi Johan Cruyff, 1 huấn luyện viên ưa lối chơi đẹp mắt mang đậm chất tấn công. Và Michael Laudrup đã không phải luyến tiếc vì lựa chọn của mình. Những năm tháng sung sức nhất của mình M.Laudrup đã toả sáng rực rỡ dưới bầu trời FC Barcelona.

Ở Italia, dù được khen là Michael "nhỏ" ( So với Michael "lớn" - Michael Platini) nhưng chưa bao giờ Laudrup gây được ấn tượng đặc biệt. Môi trường Juve quá khô khan, gò bó. Vì thế khi đến với Barcelona, Laudrup đã thoả chí anh hùng.

Laudrup tới Camp Nou khi Cruyff bước vào huấn luyện CLB năm thứ 2 ở đây. Ngay lập tức anh đã trở thành nhà đạo diễn trận đấu của đội hình trong mơ mà Cruyff tạo dựng. Michael Laudrup chơi rất ăn ý với cầu thủ xứ Basque - Beguristain ở tuyến giữa và anh chàng khó tính Stoichkov ở tuyến trên. Laudrup không phải vì thế mà không biết ghi bàn, mỗi mùa bóng trung bình anh ghi được 13 tới 14 bàn ở tất cả các mặt trận. Nhưng cái làm đối phương sợ hãi chính là những đường chuyền quyết định và thông minh của anh. Và mỗi khi Laudrup di chuyển, đối phương không biết đường nào mà lần: Thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc bên phải, lúc bên trái, xông lên rồi lại lùi về... Những pha băng lên của Laudrup luôn làm hàng thủ đối phương rối loạn sợ hãi. Một HLV đối phương từng phải giơ nắm đấm mà quát lên: "Thằng quỷ Laudrup".

Michael Laudrup cùng đồng đội

Cho đến nay nhiều người vẫn cho là bất công khi Laudrup không giành được 1 danh hiệu cá nhân nào. Anh chính là linh hồn của Barcelona khi giành được cúp C1 Châu Âu năm 1992 và nhiều danh hiệu khác. Nhưng chẳng ai tôn vinh riêng anh cả. Mãi đến gần đây năm 1998 người ta mới công nhận Michael Laudrup là " Cầu thủ nước ngoài thi đấu xuất sắc nhất tại Liga trong vòng 25 năm qua", thế nhưng đó là quá muộn và chỉ mang ý nghĩa an ủi thôi.

Michael Laudrup trong màu áo Barça

Trong năm thứ 5 ở Camp Nou, mọi thứ không còn đẹp đẽ với Laudrup. Sự xuất hiện của Romario từ Eindhoven và luật quy định chỉ ba cầu thủ nước ngoài được ra sân khiến HLV Johan Cruyff bắt đầu sử dụng luân phiên các cầu thủ. Laudrup không hài lòng chút nào, bởi anh cho rằng với vai trò của mình, anh xứng đáng có mặt trong đội hình chính trên tất cả các mặt trận. Một chấn thương tai ác đã khiến Laudrup phải nghỉ thi đấu 1 tháng và khi anh quay trở lại đã không được Johan Cruyff trọng dụng và ưu ái như trước nữa. Trong trận chung kết cúp C1 năm 1994 với Ac Milan, giọt nước cuối cùng đã làm tràn ly khi Laudrup bị gạt khỏi danh sách, và đội hình xuất phát (có lẽ vì vậy mà Barcelona bại trận chăng?).

Laudrup đã quyết định rời Camp Nou. Ngày anh ra đi có đến hơn 20.000 người cùng ký vào 1 bức thư để mong anh ở lại. Họ không muốn anh ra đi, họ không muốn mất anh, không muốn mất một trong những cầu thủ hào hoa lịch lãm nhất trong nền bóng đá thế giới. Thế nhưng những tình cảm yêu thương ấy bỗng chốc biến thành thù hận bởi Laudrup đã quyết định chuyển tới Real Madrid - đội bóng kình địch của Barcelona. Và cũng như Schuster trước đây và Luis Figo sau này, anh bị các cổ động viên của Barcelona coi là "Judas phản bội". Những năm tháng thi đấu dưới màu áo Real Madrid anh đã đóng góp tới 50% các bàn thắng vào lưới Barça, thử hỏi như vậy thì làm sao các cổ động viên Barcelona không tức giận và chửi bới la ó mỗi khi anh trở lại sân Camp Nou.

Những năm cuối cùng của sự nghiệp anh thi đấu cho Ajax, và ở Nhật. Sự nghiệp quốc tế dang dở (do mâu thuẫn với HLV, anh không có mặt trong đội hình Đan Mạch vô địch Châu Âu năm 1992), cuối cùng cũng kết thúc ngọt ngào khi anh cùng người em mình là Brian Laudrup đã giúp Đan Mạch vào tới tứ kết, và chỉ chịu dừng lại trước Brazil xuất sắc của Rivaldo ở World Cup năm 1998. Treo giày anh trở thành bình luận viên bóng đá, và theo học lớp HLV để dẫn dắt các thế hệ sau này.

Dù rất thất vọng trước cách đối xử của Johan Cruyff nhưng Laudrup vẫn coi trọng công lao của ông. Anh đã dành những lời tốt đẹp của mình để dành cho Cruyff - Người đã chắp cánh ước mơ cho anh trong những ngày tháng đẹp đẽ nhất của sự nghiệp, trên thảm cỏ xanh của sân Camp Nou huyền thoại.

Michael Laudrup

21/05/2012 - 16:53

Guillermo Amor

Published in Cầu thủ Written by

Guillermo Amor

Guillermo Amor sinh ngày 4 tháng 12 n ăm 1967 tại Benidorm, Alicate (Tây Ban Nha). Ông là một cựu cầu thủ bóng đá nổi tiếng của xứ sở bò tót.

Họ tên: Guillermo Amor

Quốc tịch: Tây Ban Nha

Sinh nhật: 04 tháng 12 năm 1967

Vị trí: Tiền đạo 

Đội tuyển quốc gia

Ông thi đấu cho đội tuyển TBN 37 trận trong khoảng thời gian từ 1990-1998, trong đó có tham dự 2 kì World Cup 1994, 1998 và Euro 1992, 1996.

Câu lạc bộ

Fc Barcelona: 1988-1998

Số bàn thắng: 89

Thành tích

1 Cúp bóng đá châu Âu (91/92)

2 Siêu cúp châu Âu (1992 và 1997)

2 Cup Winners Cup (1988/89 và 1996/97)

5 Leagues (1990/91, 91/92, 92/93, 93/94 và 97/98)

3 Copa del Rey (1989/90, 96/97 và 97/98)

4 Siêu Cúp Tây Ban Nha (1991, 1992, 1994 và 1996)

2 Copa Catalunya (1990/91 và 92/93)

Guillermo Amor chính là sản phẩm từ lò đào tạo La Masia trong những năm 80, ông là một trong những tài năng trẻ sáng giá nhất của câu lạc bộ lúc bấy giờ. Nhờ sự thăng tiến vượt bậc của mình, Amor đã được đưa lên đội chính của Barça vào năm 1988. Trong thập niên 90 của thế kỉ XX ông là một trong những thành viên của Dream Team dưới sự dẫn dắt của Johan Cruyff huyền thoại đoạt được vô số danh hiệu như: 5 chức vô địch Liga vào các năm 1991, 1992, 1993, 1994 và 1998; 1 chức vô địch Cúp C1 châu Âu vào năm 1992; 3 cúp nhà vua vào các năm 1990, 1997 và 1998 ngoài ra ông cũng là chủ nhân của 4 siêu cúp Tây Ban Nha.

Trong suốt 11 mùa giải thi đấu tại câu lạc bộ ông ra sân trong 421 trận (đứng thứ tư trong danh sách những cầu thủ khoác áo Barça nhiều nhất - tính tại thời điểm năm 2009).

Năm 1988 ông chuyển đến Fiorentina kết thúc 11 năm thi đấu cho Barça.

11/03/2012 - 23:08

Andoni Zubizarreta

Published in Cầu thủ Written by

Kể từ khi Zubizarreta ra đi khỏi thánh địa Camp Nou, đội bóng xứ Catalan chưa thể tìm được 1 người hùng nào thực sự trấn giữ trong khung thành. Cho dù là Victor Baia, Busquets hay Hesp cũng chưa đủ tầm khỏa lấp khỏi chỗ trống quá lớn mà Zubizarreta để lại. Các thủ môn sau đó như Bonano, Rustu hay bây giờ là Victor Valdes chỉ càng làm cho các Culé nhớ tới anh nhiều hơn - người trấn giữ khung thành số 1 của Barcelona trong suốt 2 thập kỷ vừa qua. Bởi đơn giản anh chính là biểu tượng của sân Camp Nou thời bấy giờ, biểu tượng cho sự an toàn và chắc chắn, là chỗ dựa, niềm tin vững chắc cho đồng đội mỗi khi thi đấu.

Thời điểm mà Zubizarreta chơi cho Barca cũng chính là thời điểm hoàng kim của câu lạc bộ. Mỗi pha ra vào, lên xuống của anh rất nhịp nhàng. Đôi lúc có những pha cứu nguy xuất thần mà tưởng như bóng đã mười mươi vào lưới. Zubizarreta đã đóng góp công sức không nhỏ trong cuộc chinh phục chiếc cúp vô địch Champions League mùa bóng 1991/1992. Với phong độ xuất sắc của mình, Zubizarreta đã không ít lần làm nản lòng các chân sút của Kaiserslautern, Benfica hay Dinamo Kiev để giúp Barca tiến đến trận đấu cuối cùng. Và cũng chính nhờ phong độ chói sáng đó đã không cho Vialli, Mancini hay Ivano Bonetti của Sampdoria 1 cơ hội cụ thể hóa thành bàn thắng. Đêm Wembley đó các cầu thủ Barca đã đăng quang và Zubizarreta đã trở thành tượng đài thực sự của sân Camp Nou.

Tên đầy đủ : Andoni Zubizarreta Urreta

Ngày sinh : 23-10-1961

Nơi sinh : Vitoria-Gasteiz, Spain

Chiều cao : 1m87

Vị trí : Thủ môn

Các câu lạc bộ đã qua

1- Deportivo Alavés (1979-1980)

2- Athletic Bilbao (1980-1983), chơi 169 trận

3- FC Barcelona (1986-1994), chơi 301 trận

4- Valencia (1994-1998), chơi 152 trận

Chơi trong màu áo đội tuyển quốc gia từ năm 1985 đến năm 1998 với tổng cộng 126 trận đấu

Zubizarreta sinh ngày 23-10-1961 tại Vitoria-Gasteiz (Araba), nhưng ông chủ yếu sinh sống ở Aretxabaleta (Gipuzkoa). Và cũng chính từ nơi đây đã bắt đầu xuất hiện 1 "gã" thủ môn nổi tiếng của Tây Ban Nha. Được lọt vào đội hình chính thức để đứng trong khung thành của Aretxabaleta (UDA) trong 3 năm từ 1977 đến 1979 là bước đệm tuyệt đẹp cho sự nghiệp thi đấu của ông. Deportivo Alavés đã lôi kéo bằng được ông về thi đấu cho câu lạc bộ trong mùa giải 1979-1980 sau đó.Tuy nhiên Zubizarreta đã phải nhẫn nại ngồi trên băng ghế dự bị suốt cả mùa bóng. Không thể để phí phạm tài năng của anh, các câu lạc bộ khác đã tranh nhau nhảy vào cuộc. Ath.Bilbao và Real Sociedad là 2 đội tranh giành nhau nhiều nhất. Nhưng Ath.Bilbao đã nhanh hơn John Toshack của Real Socidad khi thu nạp được Zubizarreta trong mùa hè năm 1980. Thời điểm đó tưởng chừng Zubizarreta đã có thể sát cánh cùng với Roberto López Ufarte, José Mari Bakero, López-Rekarte và Beguiristain thế nhưng cuối cùng Bilbao mới là đội chiến thắng trong cuộc cạnh tranh anh chàng thủ môn trẻ tuổi này. Và thật may mắn cho Bilbao khi trên hàng công có Salinas bùng nổ và đứng trên khung thành là Zubizarreta chơi xuất sắc. Cụ thể là chiến thắng lớn nhất đầu tiên trong sự nghiệp cho anh là chức vô địch Liga và chiếc Cúp Nhà Vua vào năm 1984. Dường như cảm thấy tài năng của Zubizarreta ngày càng tỏa sáng. Ban lãnh đạo của Barca đã tìm mọi cách để đưa Zubizarreta về sân Camp Nou thế chỗ cho thủ môn Urruti đang kém phong độ. Quãng thời gian 8 năm (1986-1994) ở câu lạc bộ xứ Catalan đã đem lại nhiều vinh quang cho Zubizarreta cụ thể trong đó là 4 chiếc cúp Liga và 1 Champions League. Khi nội bộ Barca bắt đầu bị giải tán thì cũng là lúc Zubizarreta ra đi, anh chuyển đến Valencia thi đấu cho tới năm 1998 thì từ giã sự nghiệp thi đấu. Kể từ đó đến nay, Barca vẫn miệt mài tìm kiếm 1 người xứng đáng với những gì mà anh đã để lại.

Zubizarreta đã chơi tổng cộng 622 trận đấu ở Liga và đó cũng là một kỷ lục đáng nể. Trong sự nghiệp thi đấu của mình Zubizarreta cũng đã có vinh dự khi được khoác áo đội tuyển quốc gia tham gia các giải đấu lớn như World Cup 1986, 1990, 1994, 1998 và các kỳ Euro 1988, 1996. Trận đấu đầu tiên mà anh có vinh dự góp mặt là trận đấu với Phần Lan vào ngày 23-1-1985, đó cũng là trận đấu đáng nhớ khi Tây Ban Nha đã vượt qua Phần Lan với tỷ số 3-1. Chiếc băng đội trưởng của anh đã chứng minh được phần nào tầm ảnh hưởng của anh chàng thủ môn tài năng này, một trong những thủ môn tài năng nhất trong lịch sử bóng đá Tây Ban Nha.

Bây giờ sau 3 năm làm giám đốc thể thao của Athletic Bilbao, Zubizarreta đã chuyển sang làm bình luận viên đài phát thanh và đài truyền hình mỗi khi La Liga sôi động diễn ra.

Thông tin về Zubi được viết từ những năm giữa thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 nên không xét đến thành tích và các cá nhân nổi trội xuất hiện sau này của đội bóng. Hiện tại (2011), Zubi đang làm Giám đốc kỹ thuật của Barça dưới thời chủ tịch Sandro Rosell.